Kết quả 1 đến 6 của 6

Chủ đề: Bảy tuần, ông yêu bà.

  1. #1
    Ngày tham gia
    Jun 2009
    Bài viết
    16
    Cảm ơn
    0
    Được cảm ơn 0/0 bài viết

    Bảy tuần, ông yêu bà.

    __~*Bảy tuần, ông yêu bà.*~__









    Câu chuyện sau xin viết để tặng những người già neo đơn.






























    Tuần thứ nhất.



    Ở quê,



    ông chưa yêu bà.









    Ông
    gặp bà từ hồi bà còn trẻ, trẻ măng. Hồi đó nhà ông cũng nghèo mà nhà bà
    cũng chẳng giàu chi. Cả hai gặp nhau không một chút cảm giác yêu đương,
    cái mà người ta vẫn gọi là tình yêu sét đánh. Sinh ra ở cái thời một
    sống chín chết, đám cưới của họ khổ chưa từng thấy. Vậy mà họ cũng gặp
    nhau hoài, run rủi thế nào, họ lại cưới nhau. Họ trở thành vợ chồng,
    vậy đấy.




    Và,
    không sướt mướt như trên truyền hình, không ca cẩm như trong cải lương,
    không lãng mạn như tiểu thuyết diễm tình, ông không có cảm giác yêu
    nồng cháy với bà. Đan vào nhau, từng nhịp một của cuộc sống, họ cứ thế
    mà tiếp tục, tồn tại như những người bạn đời, không hơn. Trải trên
    những cảm xúc nhạt nhẽo, ông và bà không thích những cái cách mà người
    Tây hay làm, họ theo kiểu truyền thống, chồng dạy vợ nghe, vợ làm chồng
    nghỉ. Chẳng bao giờ hai người hôn nhau, họ làm chuyện đó, nhưng đơn
    giản chỉ để duy trì nòi giống hoặc giả làm thỏa mãn nhau. Ông, cũng như
    bà, chưa từng biết cái hôn là gì. Hôn để biết tình yêu đẹp như thế nào,
    nhưng đó là với đám trẻ bây giờ, còn họ, họ không hôn vì chẳng thiết
    tình yêu, chẳng thiết cái cảm xúc cháy bỏng, mãnh liệt, có khả năng đốt
    chết hàng loạt con tim đó. Nhưng nói vậy, không có nghĩa họ không phải
    con người. Họ là người 100 %, chỉ có điều, là những người không có tình
    yêu, hoặc chưa biết đến tình yêu, hoặc hơn nữa, họ chưa thấu cái tình
    yêu họ có, có lẽ thế chăng ?












    Tuần thứ hai.



    Ở quê,



    Ông mất bà.









    Đến
    một ngày, ông buồn, một nỗi buồn khủng khiếp đến với ông, một nỗi mất
    mát ráo hoẵng mà ông chưa bao giờ cảm thấy, đau hơn cả kim châm, nhức
    hơn cả lửa đốt. Bà đi mất.




    Không
    phải bà chết đâu, mà bà bị bắt, bị bắt với một tội danh lạ hoắc lạ huơ.
    Ông hối hận, đến chết vẫn còn hối vì cái buổi sáng đó, tiếng gọi cửa
    vang lên, và ông đã chính tay mở cửa cho họ vào. Đó là mấy anh, mấy chị
    cán bộ. Ông thường gọi họ như thế, họ trẻ măng, và cầm những giấy má
    chìn chịt chữ, ông chẳng đọc được chữ nào, chỉ nghe họ nói huyên
    thuyên, hẳn nhiên là ông cũng chẳng hiểu câu chi luôn. Chủ yếu, cái mà
    ông quan tâm, sự việc mà ông nhận ra, là họ bắt vợ ông.




    Bắt mất bà.



    Ông chỉ biết có thế, và chỉ thế mà thôi, họ bắt vợ ông mất rồi.



    Trấn
    tĩnh lại, ông mới nhận ra, vợ mình đã đi khỏi cùng với những người lạ
    mặt. Bà gói ghém đồ đạc nhanh chóng, khóc lóc ỏm tỏi, nước mắt nước mũi
    tèm hem, bà níu ông, tìm chỗ dựa nơi ông, nhờ ông bênh vực. Và, chắc
    chắn ông đã làm vậy. Đàn ông Việt Nam, được cái gì không được, được
    nhất là biết bảo vệ gia đình mình. Đó như bản năng, ông che chắn bà,
    làm cái việc mà người chồng phải làm, ông quát mắng và chống chọi lại
    cái bọn “vô duyên, khả ố”, từ ngữ mà ông hay dùng. Nhưng không được,
    cái tội của bà đã rành rành như thế, họ bắt bà đi vì: bà có nghi can
    đến một vụ án giết người, hung khí tìm được trong ruộng dưa của nhà bà,
    có cả nhân chứng đàng hoàng. Họ bắt bà, vì đã khẳng định và hoàn toàn
    được sự ủng hộ của công lý.




    Thế
    là ông với bà chưng hửng, chẳng biết làm sao. Họ đưa ra một con dao bầu
    còn đỏ máu, ông rùng mình và bà thì ngất xỉu. Bà đã cao tuổi rồi, gần
    sáu mươi rồi còn gì, tóc bạc trắng cả.










    Tuần thứ ba.



    Trên đường đi, ở ngoại ô thành phố,



    Ông nhớ bà.











    Ông
    không tin, không tin vợ mình có tội, nhất định thế, nhất định là bà bị
    oan. Ông, một người hay coi và cập nhật tin tức trên kênh thời sự, từ
    khi xóm ông được tổ dân phố bắt điện và cáp truyền hình. Dĩ nhiên không
    phải là cáp kỹ thuật số rồi, cái tivi màu cổ lỗ sỉ nhà ông, chỉ bật
    được có mấy kênh ít xì xì. Hồi đó gắng lắm ông mới bán heo mua được, cả
    xóm có mỗi nhà ông xem được tivi đầu tiên, tự hào lắm chứ bộ. Nhưng
    thôi, quay lại chuyện của ông. Ông không tin vào cái tội mà họ đặt cho
    bà, ông nghĩ họ đã vu oan cho ông. Cái tên gì gì… họ nói, cái người gì
    đã vu cho bà cái tội giết người, ông ghim trong bụng, ông quyết định
    lên thành phố, kiện cái người đó, đem vợ mình về.




    Nhà
    ông có một ruộng dưa, hằng ngày đem trồng ra chợ bán. Ông lấy cuốc ra
    xem còn bao nhiêu, đào hết bỏ vào bị, bán luôn một lần. Trong nhà còn
    bao nhiêu tiền để dành, ông vét hết bỏ vào bị, chuẩn bị hành trình lên
    thành phố, cái chốn lạ lẫm ông chỉ lên đó một lần. Ông dắt theo một con
    heo nái để phòng hờ, con heo ú ụ làm phiền ông nhiều lắm. Nó khiến ông
    phải cuốc bằng chân lên huyện, chứ không phải bằng xe buýt hay xe lửa.
    Không có xe nào chịu nổi con heo, hay cả ông già quê mùa chủ của nó
    nữa. Lục đục cái lưng khỏe như vâm, một tay ông cắp giỏ, một tay ông
    dắt heo, lết thết một ngày trời, vừa đi vừa nghĩ cũng tới được bến đò.
    Thế là từ đò, ông và con heo cũng tới được ngoại ô thành phố. Nhìn cái
    dáng ông lê dép xềnh xệch, dắt heo như dắt con, đến là khổ. Người ta
    nhìn vào chỉ trỏ quá trời, lần đầu tiên họ thấy một ông già ăn bận quê
    xệ dắt heo đi chơi. Ai hỏi ông đi đâu, ông bảo lên phố. Nhiều người
    không hỏi kỹ cứ tưởng lão này già mà còn học làm sang, lên phố chưng
    diện. Nhưng mà ông không có để ý, ông câm như hến, hỏi thì nói, không
    thì thôi, tính ông nó thế. Bởi vậy mà suốt ngày cứ ra ra vào vào, ông
    với bà chẳng nói với nhau đến dăm câu. Trừ lúc bà gọi ông ăn cơm, hay
    bà bảo ông nhắm rượu ít thôi, còn thì chỉ có ông vẫy bà vào buồng nói
    nhỏ…




    Đường
    đi đò làm ông mệt lử, ngay cả con heo cũng chóng mặt lằm xệ cả ra.
    Đường đò lâu ơi là lâu khiến ông buồn chân buồn tay. Thường ông không
    trồng dưa thì cũng chạy qua chạy lại kiếm việc gì đó làm, chứ ít khi
    ông chịu ngồi không. Bây giờ, giữa miền sông nước lềnh bềnh, ông chợt
    hít vào những suy nghĩ về vợ mình.




    Rồi
    cũng tới nơi, việc đầu tiên là đi tìm chỗ trọ. Trời đất, tìm chỗ ở được
    cũng là một chuyện khó lắm chứ chẳng chơi. Thật ra chỉ khó với mỗi ông,
    tiền thì kiết, lúc nào cũng mặc cả, lại còn dắt theo con heo hôi thối
    kêu eng éc nhức bưng cả đầu. Ai thấy ông cũng tránh xa, còn thì dễ với
    người lắm tiền, vung ra vài chục hay vài trăm thì được ở chỗ sang ngay.
    Nhưng mà ông đâu có dám, ở thì ở đâu chẳng được, tiền phải dành để cứu
    vợ.




    Thế
    là ông ở trong một cái chòi nhỏ, giá thuê rẻ bèo. Nhìn sơ thì chỗ đó
    giống cái chuồng hơi cái chòi, y chang luôn, đến cả con heo vừa vào thì
    rú lên như phải gió, trông nó mừng quýnh vì tưởng được về nhà. Ấy thế
    mà ông mừng hơn cả con heo, có chỗ thuê như vầy tốt quá, cứ tưởng phải
    tìm gốc nào trên con đường đất mà chui vào ngủ đỡ. Bụng ông đói meo,
    trong cái chòi ánh điện mập mờ như chớm tắt, ông móc một củ khoai từ
    trong giỏ ra nhai. Ngon tuyệt, trời lạnh ngắt cắt ra, tháng một tây rồi
    còn gì, ấy thế mà ông quên bê theo cái chăn. Nhưng mà chiếc áo ông
    khoác trên người, giờ thì ông cảm thấy ấm lạ lùng. Chắc là vì đó là cái
    áo vợ ông may, áo mới đàng hoàng. Mùa nào bà cũng may áo mới cho chồng
    mặc đông. Nói thế mà ngẫm lại mới hiểu, áo mới của ông khâu lại từ áo
    cũ của bà năm ngoái, hai vợ chồng đổi nhau mặc cho khác màu.




    Tối
    đó ông ngủ sớm lắm, có con heo nằm bên cạnh cũng đỡ lạnh. Buồn quá,
    ngồi làm chi. Ông nằm xuống ngáy khì khì, cả ngày đi bộ tê rần cả chân,
    giá mà có bà ở đây vuốt dầu cho ông nhỉ ! Sau hôm đó, ông ốm luôn. Nằm
    một chỗ mà rên hừ hừ, có lẽ ông bị cảm vì mái chòi hở dữ quá, lại còn
    mặc áo mỏng và thiếu ăn. Ông xanh xao và chỉ nằm một chỗ, ước gì có bà
    ở đây, bà sẽ lo cho ông. Nhưng bà không có, mà chỉ có con heo trơ tráo
    nhìn ông, trông nó có vẻ lo lắng khi thấy điệu bộ của ông. Mỗi khi ông
    ốm, có thói quen rên dài lên: “bà ơi, bà”. Đó, lạ, nằm không cũng kêu,
    buồn cũng kêu mà vui cũng kêu. Thức cũng kêu mà ngủ cũng réo. Mỗi lần
    ông ốm là mỗi lầm bà mất ngủ, nhưng mà bà lại thấy vui vui, chỉ có mình
    ông hay kêu bà chứ ai, mà mỗi lần ông ốm, bà thấy ông dễ thương đến lạ.
    Nói nào ngay, bà thấy ông đẹp trai và hiền hẳn ra. Cái câu “bà ơi, bà”
    nó âm ấm và dễ chịu làm sao…





    giờ cũng vậy, ông cũng kêu như thế, mà chẳng có bà nào chạy tới, trừ
    “bà heo”. Nhưng mà bả thì chỉ biết nằm kêu ẹc ẹc thôi chứ biết làm gì.
    Cũng may làm sao, ông biết từ chăm mình. Cố vực dậy, ông lôi mấy đồ
    trong giỏ ra, có chai dầu gió bự, ông xức lấy xức để lên trán lên cổ.
    Rồi ông quay qua con heo, bôi lên hai thái dương của nó nữa. Gớm, heo
    mà ốm thì mấy bữa nữa ông biết bán thế nào. Ông lại moi hết đống khoai
    ra, ních cho no bụng. Ông sợ ông cứ ốm hoài, vợ ông sẽ khổ, vì thế cứ
    ăn cho no đã, khỏe lại thì đi tìm cái khác mà nuốt. Người nhà quê sợ
    nhất là bị ốm, ốm rồi là bãi hoải, chẳng làm được gì, có mà đói. Tuần
    đó ông cứ ở lại nhà ngủ với con heo, chờ cho khỏe. Ấy thế mà cử ốm của
    ông dai phết. Ông thở hắt ra rồi quay sang ôm heo ngủ cho ấm, ngày qua
    ngày, đến gần cuối tuần ông mới đỡ dần.




    Tuần
    này, ông khỏe rồi. Ông khỏe thì ông bắt đầu công việc ngay. Ông hỏi
    đường. Đừng tưởng thế mà dễ, trong cái hỏi đường tiềm ẩn biết bao nhiêu
    là chuyện vặt, mà chuyện nào đối với ông cũng khó hơn lên trời. Chuyện
    thứ nhất, quan trọng nhất, ông phải vô trung tâm thành phố, ở đó mới có
    luật sư. Chứ thành phố rộng lớn quá, ngoại ô thì cũng gần như chốn quê,
    làm gì có ai. Thế là ông khóa cửa, bỏ con heo lại trong chòi, lấy tiền
    mua vé xe lên phố. “Chu choa” lần thứ hai lên phố, ông đã thốt lên như
    vậy đấy. “Phố đẹp quá, cái gì cũng đẹp, người cũng đẹp, ai cũng đẹp
    hết” Ông trầm trồ nhìn ngắm. Hồi xưa lên phố tham gia chiến tranh, ông
    chỉ thấy đây đó mìn nổ lụp xụp, bụi cát vù vù. Giờ đây nhìn đâu cũng
    thấy kính lắp bóng lộn, trông mà lóa cả mắt mũi. Lại còn ồn nữa, ông
    lấy cục bông gòn xé ra nhét bớt vào hai lỗ tai mình cho đỡ ồn. Ở nhà
    quê yên tịnh quen rồi, lên đây ồn quá, nhạc nhẽo xập xình, ông váng cả
    đầu.




    Hỏi
    người này người kia, rốt cục ông cũng đến được phòng luật sư. Miệng ông
    móm mém, khiến cho ông luật sư khổ sở ngồi vừa nghe vừa… suy đoán. Ông
    vừa ngồi vào là nói tràn lan đại hải, nói búa lua xua, phần lớn để mô
    tả vợ mình như thế nào, rồi bị bắt ra làm sao. Ông luật sư ráng ngồi
    nghe, nghe xong rồi mới tóm tắt lại câu chuyện giùm ông. Chủ yếu là ông
    muốn kiện tên người đó, người đã bắt vợ ông, rồi phải cứu cho được vợ
    ông ra. Cuối cùng luật sư hỏi, phần quan trọng nhất, chứ ông có bao
    nhiêu tiền ?




    Ông
    lủi thủi ra về, trời lạnh, lòng ông cũng lạnh toát. Nhìn ông già lủi
    thủi đi ngang qua cái cầu phao, người ta ai thấy cũng liếc lại buồn
    buồn. Ông lạch bạch bước bộ cùng với cái bóng dần in đậm trên đất của
    mình. Trên đường nhạt thết, trống trãi. Phải rồi, gần tết rồi mà, ai
    cũng lo làm lo ăn, lo vui cái hạnh phúc của mình. Còn ông, giờ ông chỉ
    có mỗi một mối lo duy nhất, liệu có đem vợ về được không ? Nhớ tới tết
    mà ông chợt chạnh lòng. Mỗi cái tết với ông là một niềm vui nho nhỏ.
    Đời ông đã ăn gần năm mươi mất cái tết rồi, cũng nhàm. Nhưng mà y chang
    rượu, mỗi lần nhắm tết với vợ, nó men men và say say. Vợ ông hồi trẻ
    không đẹp, già rồi lại càng xấu, nhưng mà ở với nhau lâu thật là lâu,
    dần rồi trở thành cái tay, cái chân, thiếu không được. Mỗi lần bà đi
    đâu lâu một chút, đi chợ hoặc đứng trò chuyện với bà cụ xóm trên, là
    ông lại đâm lo lo. Người ta chọc là vợ ông có bồ, đôi lúc ông còn tưởng
    thế thật. Thế là ông cấm, bà đi đâu, ông theo đó, đi chợ cũng đi chung,
    đi chơi cũng đi chung, đi cày cũng chung nốt. Giờ nghĩ ông tự cười phì
    một mình. Tối đó, ông về chòi gặm khoai, vừa ngồi vừa vuốt đầu con heo
    mấy cái, y như mấy người vuốt con vật cưng của mình. Còn ông, cũng may
    mà còn con heo, chứ không thì ông buồn chết mất. Lần đầu tiên, ông nhận
    ra, cảm giác không có vợ ở bên cạnh, lâu và chán nản như thế nào.












    Tuần thứ tư,



    Ở thành phố, nhà đứa cháu mới,



    Ông lo cho bà.








    Làm
    sao để có tiền ? Đó là một câu hỏi khó. Mất cả tuần, ông mới hình dung
    ra cả quá trình cứu vợ. Nó mới bất khả thi làm sao. Vét hết trong giỏ
    mà chỉ có vài trăm ngàn. Ông thở dài thườn thượt, giá mà ông trẻ hơn
    chục tuổi, còn xin làm cái này cái kia. Già khú đế như ông xin làm, ai
    mà nhận.




    Ấy
    vậy mà cũng có người nhận mới hay. Một cô hai chừng ba mươi tuổi, răng
    hô, mặt nhọn, xấu nghí. Cô thuê ông làm một cái nghề kì cục khi bắt gặp
    ông ngồi ở quán nước chè đầu kiệt nhà mình. Nghề của ông là giả làm ông
    nội. Đến là lạ, nhưng lại chẳng lạ chút nào, đối với cô gái kia. Cô ta
    dẫn ông về nhà, mời ông uống nước. Nhà trống hoẵng, chỉ có vài đồ dùng
    lặt vặt, đặt bê bối và vụng về. Ông hỏi kỹ, làm ông nội là như thế nào.
    Thì ra, cô răng hô nhờ ông đi làm xui cho mình. Ý là gia đình nhà chồng
    đòi hỏi phải có cha mẹ thì mới cưới xin, chứ không thì bị cho là người
    không đàng hoàng.




    Vậy
    là cô răng hô thuê ông làm ông nội mình, đi dạm hỏi cho cô. Trời đất,
    hồi nào giờ ông có làm cái này bao giờ đâu. Bà chẳng sanh cho ông nổi
    đứa con nít nào để ẳm chứ đừng nói đến chuyện cháu chắt. Hai người sống
    với nhau thui thủi, nhiều lúc thèm biết bao cái cảm giác làm cha, làm
    mẹ nhưng không được, lại chẳng ai nói ra. Đùng một cái, ông lại có một
    đứa cháu, lại còn phải đi hỏi cưới cho nó nữa. Vừa mừng mà vừa lo, lại
    có cảm giác là lạ. Mới đầu ông định từ chối, vì cái nghề này… kỳ quá.
    Nhưng mà nghĩ đến bà, ông lại chẳng biết làm thế nào, cứ ngần ngừ mãi.
    Rồi cô răng hô nằn nì, tỉ tê với ông. Bảo là cô xấu quá nên ế, đến giờ
    mới gặp được một chàng, giờ mà không cưới thì chắc ở giá tới già quá.
    Nhìn cô có cái răng gồ ghề, xấu xí, ông bất giác chợt cảm thương. Nếu
    mà ông có một đứa cháu như thế, nếu mà ông nghe rằng, nó không lấy được
    chồng chỉ vì vẻ ngoài của mình, chắc ông cũng buồn ghê lắm. Và ông đồng
    ý với cô, ông sẽ làm ông nội của cô, sẽ đi cưới chồng cho cô. Ông nhe
    răng cười, vừa tủi thân, vừa nhớ vợ vừa thấy cái gì đó vui vui len lỏi
    trong trái tim bằng phẳng của ông.














    Tuần thứ năm.



    Ở thành phố,



    Ông yêu bà.









    Ông
    ăn vận thật chỉn chu. Cô cháu gái mới của ông bắt ông ở luôn lại nhà cô
    ta, đem theo con heo nữa. Cả đời ông, chắc đó là lần đầu tiên ông được
    ở trong nhà xây gạch trắng. Ông ăn đủ ba bữa, chẳng bỏ bữa nào. Ông
    được cho ngủ riêng một buồng, có thể nói là sướng chưa từng thấy. Và
    đến kỳ hạn định, ông bắt đầu công việc của mình. Ông dắt cô cháu gái,
    mà đúng ra là cô cháu gái dắt ông, đến một nhà hàng nơi nhà trai hẹn
    trước. Cuộc gặp gỡ hoàn toàn thất bại, theo đúng nghĩa đen của nó.
    Người ta chỉ lấy cớ phụ huynh này nọ, chứ nhìn cô là họ vốn đã không ưa
    rồi. Cả hai đành lủi thủi ra về, cô kia buồn, ông còn buồn hơn, cứ như
    người mất hồn vậy. Ông có cảm giác, chính vì sự xuất hiện của ông mà cô
    mất chồng, ông mặc cảm và bỏ đi, chưa lấy xu tiền công nào. Ông dắt con
    heo đi mất, cô kia chẳng kịp nói gì, cũng chẳng biết ông đi đâu để mà
    đuổi theo.


    Ông
    về lại căn chòi đó, cố tìm cách khác. Ông quay lại chỗ luật sư, hỏi xem
    ông ta có cho khất nợ không ? Cả phòng luật cười ngất, công việc hành
    chính chứ có phải buôn lê buôn thóc đâu mà khất với chả thiếu. Người ta
    nhìn ông với cái kiểu thông cảm hết sức mỉa mai, cái nhìn thường trực
    của những cô cậu trẻ tuổi với người già quê.




    Túng
    bẫn, ông chẳng biết làm gì, cứ ngồi một chỗ trong lều mà suy nghĩ. Tuần
    này trời trở mưa lớn, không đi đâu được. Trong căn chòi, ông lấy nhiều
    miếng vải mỏng và ni lông cũ, kéo đỡ vào những chỗ mưa dột. Sáng đến
    tối qua, ông co giò ngồi ngắm trời mưa. Nhớ những lúc này, hồi còn ở
    quê, ông cũng cứ ngồi như thế. Nhưng mà lúc đó có bà ngồi bên, bà bóp
    chân bóp tay cho ông, rù rì với ông mấy chuyện trên trời dưới đất, cũng
    đỡ buồn. Trời đất, giờ ông mới nhận ra, cái giọng bà nói mới dễ nghe và
    dễ thương biết bao. Hồi xưa còn trẻ, bà nói nhiều lắm, bà bảo lấy ông
    rồi, ông trầm tính quá, bà nói bù qua cho phần ông luôn. Thế là bà
    huyên thuyên suốt ngày, dần dần tuổi già lấy đi bớt phần nào sự nhiệt
    tình của bà, giọng bà khàn dần, rệu rã dần đi, vậy mà bà vẫn nói… Nói
    khi ông buồn, khi ông chán, khi ông thèm nghe bà nói. Bỗng nhiên, ông
    nhớ bà quá. Nhớ da diết, nhớ đến mức bỗng dưng khóe mắt nó rưng rưng.
    Hồi nào giờ có bao giờ xa bà lâu như vầy đâu, nhớ quá !




    Ông
    lên cơn thèm rượu, nhưng mà không có rượu, ông moi khoai từ ra gặm,
    nhắm với nước lọc, cũng đỡ thèm. Rượu thì còn thế được, nhưng thiếu bà
    thì không có cái gì bù vô nổi. Ông thở dài cái thượt, ông lẩm bẩm “bà
    ơi, bà…”. Hai từ cách nhau đến một quãng xa lơ xa lắc, ông thấy sao mà
    cái đời ông nó ngu ngơ quá. Ngồi không làm gì, ông đâm ra nghĩ ngợi
    linh tinh. Suy nghĩ của ông chỉ quanh đi quẩn lại có mỗi hình bóng của
    bà. Con người ta bình thường đã quen hơi thứ gì rồi, thiếu đi lại thấy
    khó chịu, bứt rứt. Ông cũng vậy, không biết bà có vậy không nhỉ ?




    Ông
    đột nhiên nhớ đến những ngày còn trẻ, lúc đó ông khỏe lắm, đi làm điền
    làm ruộng, làm đủ thứ cả. Rồi ông cưới bà, ông càng khỏe hơn. Nhưng mà
    cái đời ông sao mà khổ, có làm bao nhiêu cũng nghèo. Cả bà với cả ông,
    xưa thì sống nhà tranh, nay thì sống nhà đúc. Ông lại thở dài thêm cái
    nữa. Giá mà chỉ một mình thôi cũng chả sao, ông thì gì cũng sống được,
    nhưng mà với bà thì không thế. Bà là con gái, mà con gái thì thường
    thích những thứ tốt đẹp. Cả đời bà chắc chưa thấy cái gì gọi là tốt
    đẹp, đến cái trâm hay cây son, ông cũng chẳng mua gì cho bà được. Vậy
    mà bà vẫn theo ông. Người Việt Nam mà, thay vì nói từ “yêu”, chắc họ sẽ
    nói là “thương”. Cái từ thương đó nó mặn mòi mà sâu nặng. Nhưng mà
    thương mãi cũng chẳng yêu, hay chưa nhận ra tình yêu. Người ta nói,
    cưới nhau về rồi từ từ bồi đắp tình cảm, kể cũng đúng thật. Nhưng mà
    sao từ đó tới giờ, cái tình cảm đã được bồi đầy đủ, có khi còn dư ra
    nữa, mà ông vẫn chẳng nhận ra. Ông không khi nào biểu lộ tình cảm với
    bà. Ví như ông vuốt tóc bà một cái hay là hôn lên má bà, bảo với bà là
    “tôi thương mình lắm…”. Không, ông chưa từng nói vậy, để rồi giờ đây,
    ông lại tiêng tiếc. Ông nhớ lại mấy lúc bà bị ốm trên ruộng, ông hoảng
    hồn, vừa thô lỗ vác bà vào trong giường như vác một cái tủ, lộc xộc đi
    nấu cháo cháy cạn cho bà ăn. Đấy, ông chẳng nhớ ra có khi nào ông đối
    xử hiền dịu, tử tế với bà lấy một chút không ? Ông lại thở dài, lại
    buồn, buồn não nề. Mỗi lúc chiều lại là khi con người ta thấy sầu não
    nhất. Còn ông thì cứ sáng, chiều hay là tối, hoặc là những thời khắc
    chen giữa mấy lúc đó nữa, ông đều thấy thiếu bà. Ông thương, hay là yêu
    bà thiệt rồi.












    Tuần thứ sáu,



    Trong thành phố,



    Ông yêu bà, rất nhiều.









    Ông mừng quá.



    Ông vui thật, niềm vui vỡ cả ra như nước bể chảy.



    Tuần
    này ông tìm cách vô tù, thăm bà, và được biết bà đã được giải oan. Bà
    không giết người, cái tên gì đó đã cho người điều tra, và bắt được thủ
    phạm đã dấu dao vào vườn của bà, tạo hiện trường giả. Thì ra thủ phạm
    thông đồng với quan chức địa phương, rồi họ vu cho bà cái tội đó. May
    quá, công an thấy kỳ, họ xét lại, rồi bí mật điều tra lại, mọi chuyện
    sáng tỏ. Bà đã được người ta cho xe chở về quê nhà, sao bà không chờ
    ông nhỉ. Mà làm sao bà biết ông lên kiếm bà chứ ? Thôi, gì gì thì, ông
    vui lắm, ông nhảy cẫng lên, reo um sùm, reo mấy câu đại loại như:




    “bà ơi, bà”



    “bà hổng có giết người, bà ơi,…bà”



    “bà ơi, bà…”



    Ông
    vui quá, vội trả tiền trọ cho chủ cái chòi. Ông bán phứt con heo đi,
    định bụng sẽ tới chợ mua cái gì đó đem về cho bà. Bỗng nhiên, ông muốn
    hẹn hò hay làm cái gì đó vui vui với bà. Như trên tivi ấy, họ làm đủ
    cả. Có người già khú đế, già còn hơn ông mà còn tái cưới nữa là.




    Theo
    lời của mấy người sống quanh đó khuyên, ông nên mua cho bà cái gì bà
    thích nhất. Bà thích gì nhỉ ? Ông không biết, hồi nào giờ ông có hỏi
    hay có biết bà thích cái gì đâu. Nhưng mà chắc bà thích đeo nhẫn. Hồi
    còn trẻ cưới về, ông nghèo sơ. Ông mua khay trầu rồi cưới bà luôn,
    chẳng có cái gì làm tin cả. Người ta cưới xin ăn nhau là cặp nhẫn, vậy
    mà cả đời trên tay bà chỉ toàn đất là đất, trẻ thì căng non, già thì
    nhăn nhúm, tay bà cứ trống trơn. Càng nghĩ ông càng thương bà, thương
    lắm cơ. Ông ra tiệm vàng, đem toàn bộ tiền mua hai cái nhẫn rẻ mà xấu
    nhất, rồi hí hửng ra tàu về nhanh với bà.




    Lòng
    ông rộn ràn, bước chân thơ thới. Ông như trẻ ra chừng chục tuổi. Tiếng
    người nói nói cười cười làm ông bất giác thấy sướng theo. Tết mà, ai
    cũng chuẩn bị sắm đồ đón xuân.




    Nhớ
    mấy năm rồi, năm nào hai ông bà cũng tựa lưng nhau ăn tết. Nó thành cái
    truyền thống. Bà mua thêm gạo và thịt lợn về nhào bánh chưng, ông hì
    hục lấy sợi gai quấn bánh. Năm nào ngày 30 ông với bà cũng thức trắng.
    Xem trên tivi, ông thấy người ta cứ mua bánh chưng sẵn ngoài tiệm, bánh
    không có buộc gai mà quấn bằng sợi ni lông, thế thì còn gì mà thích,
    còn gì là tết ? Với ông, quấn bánh gai với bà cũng là một cái thú. Càng
    lúc ông càng nhận ra, ông với bà có bao nhiêu là kỷ niệm, vợ chồng mà,
    người ta bảo càng già thì càng thương nhau, đúng thế thật.




    Cái
    bánh, cái mứt, không khí chộn rộn mà sôi nổi hẳn. Ông ngồi trên xe đò
    mà ngắm nhìn chung quanh. Không khí như có màu, cứ tới tết là nó lại
    đổi màu, từ không sang có. Ông tính khi về rồi sẽ dắt tay bà cùng đi
    mua bánh mứt, mua gà và đồ cúng về để sẵn. Từ nay không chỉ đi đứng
    cùng nhau, ông cũng sẽ cùng bà làm mọi việc. Đối với người già, họ quá
    lớn tuổi để chú ý đến sự đời, nhưng lại quá trẻ để tiếp tục yêu nhau
    nhiều hơn nữa. Trời ơi, càng nghĩ ông càng nôn nao, bụng ông cứ quằn
    quặn, sao mà tự nhiên ông thèm gặp bà thế này không biết…










    Tuần thứ bảy,



    Ở quê,



    Bà cũng yêu ông, nhiều lắm.









    Ông
    đứng trước cửa nhà rồi, nhưng mà ông không dám vào. Người ta bu quanh
    đông ngịt, có cả nhà báo, mấy người hay cầm máy ảnh, cả đời ông chỉ
    chụp với bà có một lần. Có công an, cả đời ông chỉ làm bộ đội có vài
    lần. Có hàng xóm, cả đời ông chỉ nói chuyện với họ có triệu lần… Không
    có bà, người mà cả đời ông dành trọn cho…




    Người ta chụp lấy tay ông, khóc lóc…



    Có người hãm bước chân ông lại, vì ông đi nhanh quá…



    Có người đỡ ông, vì ông bắt đầu khuỵa xuống…



    Có người ôm lấy ông, vì ông bắt đầu khóc…



    Có người đỡ và báu chặt lấy ông vì ông bắt đầu rú và lồng lên…



    Họ buông ông ra vì bà đang nằm ở đó.



    Bà đã ra đi.



    Người
    ta nói bà bị trúng gió, đã bảo nên ở lại bệnh viện để kiểm tra, nhưng
    bà không nghe, bà đòi phải về nhà với ông. Cũng như ông, bà nhớ ông,
    nhớ kinh khủng, thương ông, thương rất nhiều. Nhiều đến mức mà ông bất
    giác cảm thấy xấu hổ. Nhưng cảm xúc của ông dường như bỏ tim ông mà đi
    đâu mất rồi. Ông ôm bà, ôm hoài, ông lay bà, lay mãi, nhưng bà không có
    trả lời ông. Cũng như khi ông hay gọi : “bà ơi, bà” Những lúc như thế,
    bà ba chân bốn cẳng chạy đến bên ông, quắc mắc vì có vài khi bà đang đi
    tiểu. Nhưng mà giờ, bà không có tới bên ông nữa. Bà không có nghênh cái
    mặt nhăn nheo ra trêu ông nữa. Ông run rẩy nói:




    “bà ơi, bà coi, tui mua nhẫn cho bà rồi nè. Tụi mình đám cưới lại, hen…”




    để ông đeo nhẫn vào, không phản kháng, nhưng cũng không trả lời. Đám
    người xung quanh như đang chết dần đi, câm lặng… Không khí lại đổi màu,
    đen ngịt






    “bà ơi, bà…”

























    Hết.Edited by: \1

  2. #2
    Ngày tham gia
    Nov 2009
    Bài viết
    15
    Cảm ơn
    0
    Được cảm ơn 0/0 bài viết
    Tuyệt quá, bài viết của bạn rất hay[img]smileys/smiley32.gif[/img]

    Tặng bạn [img]smileys/smiley10.gif[/img][img]smileys/smiley10.gif[/img][img]smileys/smiley10.gif[/img][img]smileys/smiley10.gif[/img][img]smileys/smiley10.gif[/img][img]smileys/smiley10.gif[/img][img]smileys/smiley10.gif[/img][img]smileys/smiley10.gif[/img][img]smileys/smiley10.gif[/img][img]smileys/smiley10.gif[/img][img]smileys/smiley10.gif[/img][img]smileys/smiley10.gif[/img][img]smileys/smiley10.gif[/img][img]smileys/smiley10.gif[/img][img]smileys/smiley10.gif[/img][img]smileys/smiley10.gif[/img][img]smileys/smiley10.gif[/img]

    :* [img]smileys/smiley27.gif[/img]


  3. #3
    Ngày tham gia
    Feb 2009
    Bài viết
    127
    Cảm ơn
    0
    Được cảm ơn 0/0 bài viết
    Cảm ơn bạn rất nhiều. Bài viết của bạn rất hay[img]smileys/smiley1.gif[/img]

  4. #4
    Ngày tham gia
    Mar 2009
    Bài viết
    216
    Cảm ơn
    4
    Được cảm ơn 3/3 bài viết


    Đánh dấu cái, có vẻ hay đây, tí đọc

  5. #5
    Ngày tham gia
    Mar 2009
    Bài viết
    216
    Cảm ơn
    4
    Được cảm ơn 3/3 bài viết
    Xúc động quá huhu. Không biết nói thế nào nữa, tình yêu

  6. #6
    Ngày tham gia
    Mar 2009
    Bài viết
    497
    Cảm ơn
    6
    Được cảm ơn 0/0 bài viết


    Ông ơi ông.....

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •