Kết quả 1 đến 2 của 2

Chủ đề: Thần Thoại

  1. #1
    Ngày tham gia
    Jun 2009
    Bài viết
    16
    Cảm ơn
    0
    Được cảm ơn 0/0 bài viết

    Thần Thoại

    Ngũ Sắc Ngũ Đóa ( Hoa gia đình )





    Phú hộ nhà họ Đường, tên là Hồng sống ở ngoại thành kinh đô Thăng Long,
    giàu có nổi tiếng nhất nước. Đến nhà vua cũng vài lần mời lão phú hộ
    vào cung thưởng rượu. Tuy không có vai vế trong chính sự, nhưng với
    lượng thuế ông nộp cho quốc khố hàng năm, ông nghiễm nhiên trở thành
    nhân vật được nể trọng trong kinh đô hoàng triều. Nhưng những thứ đó
    không làm nên một lão phú hộ được vị nể, tính tình hiền lành, bộc trực,
    ưa làm thiện của ông được nhân dân hết lòng ngưỡng mộ. Ông có đến hàng
    ngàn mẩu ruộng ở dưới quê, tính thương người của ông làm cho cả những
    tên côn đồ, phá phách cũng chẳng dám động chạm. Lúc trước có vài tên
    bợm rượu, kiếm cớ đến phá một ruộng dưa của ông. Chúng đi ngang qua một
    thửa dưa hấu, tiện chân đạp bể một trái còn non. Phú hộ đi qua liền
    chạy đến ôm trái dưa ngồi khóc. Nhiều người thấy thế bảo ông keo kiệt,
    có mỗi trái dưa mà làm um sùm, chẳng đáng mặt một phú ông. Nhưng ông
    lại không đánh, không mắng mấy tên bợm rượu, cũng chẳng nói lại những
    người buôn chuyện kia. Ông không nói không rằng, đem trái dưa bể đó cắt
    ra, để giữa làng, viết một lá thư, bảo mọi người đọc to lên. Nội dung
    trái dưa là một bài tế, bài tế trái dưa hấu. Một trái dưa hấu còn non
    mà đã chết sớm. Tuy trong trái dưa chỉ là mấy mẩu trắng trộn, nhưng nó
    cũng có một linh hồn. Từ khi sinh ra và lớn lên, dưa hấu mong mỏi có
    một ngày được người hiền thưởng thức, nhưng chưa gì đã bị đạp méo mặt.
    Bức thư làm cho những tên bợm rượu hối hận, chúng dắt nhau đến xin lỗi
    phú hộ, ông không những an ủi chúng mà còn cho chúng việc làm trên
    ruộng dưa kia. Phú hộ ăn ở hiền lành, đồng lời kiếm được luôn chia cho
    người nghèo và cúng phật. Tiếng đồn về ông vang xa đến cả nước.

    Hiềm một nỗi ông không có con cái, trai cũng không mà gái cũng chẳng
    có. Buồn lòng, ngày ngày ông bỏ bê công ăn việc làm, giao toàn việc
    quản lý cho em trai là Đường Kính trông coi. Còn về phần Đường Hồng,
    ông lên chùa thắp nhang cầu tự, một lòng xin đức Phật ban cho mình một
    mụn con, con gì cũng được, không phân biệt trai gái.

    Một buổi sáng, trên đường đến ngôi chùa sát chân núi. Đường phú hộ thấy
    có ông cụ đi ngang qua bị vấp té, ông đang ngồi kiệu vội nhảy xuống tới
    đỡ cụ già. Phú ông đỡ cụ đến một phiến đá ven đường, sai người đem nước
    cho cụ uống. Đường Hồng ngồi bên phe phẩy cây quạt kiếm gió cho cụ già.
    Phú ông cau mày nói:

    “sao cụ lớn tuổi lại đi con đường đầy sỏi thế này? Con cái của cụ đâu?”

    Cụ già cười lớn trước vẻ ân cần của phú ông, cụ mỉm cười đáp:

    “ta không có con cái, anh cũng chẳng phải quen biết với ta, sao lại tỏ ra quan tâm thế?”

    Phú ông tỏ ra buồn phiền, lắc đầu đáp với cụ già:

    “già cả như cụ thì đáng làm cha, làm mẹ thiên hạ, xá gì là con.”

    Cụ già gật đầu tỏ vẻ hài lòng:

    “ừ, thôi, mà anh đang đi đâu đó?”

    “con đến chùa cụ ạ”

    “ta thấy anh hay đi con đường này, chẳng lẽ ngày nào cũng đến chùa hay sao?”

    Phú ông thở dài đáp dạ. Cụ già gặn hỏi nguyên do, ông ta liền kể lại
    nguyện vọng của bản thân. Cụ già nghe xong ngẩng đầu cười to, nói rằng:

    “a, tưởng gì chứ chuyện đó thì quá dễ”

    Phú ông bật cười, không muốn làm cho ông cụ mất vui bèn đáp xuôi theo.
    Ông cụ vỗ vai phú ông rồi đứng lên, rủ ông đi tản ngoạn. Phú ông bật
    lên kinh ngạc, sao ông cụ bỗng nhiên đi lại nhanh nhẩu thế. Ông cụ cười
    cười, dắt phú ông bẻ qua cánh đồng lau bên cạnh, bỏ lại người hầu đứng
    chờ phía sau. Trước khi đi, phú ông không quên bảo đám người kiếm chỗ
    có bóng mát mà đứng cho đỡ mỏi. Ông cụ dắt phú ông đi vòng quanh đám
    lau, cụ cứ nhìn chỗ này rồi quay sang chỗ kia, hình như đang tìm cái gì
    đấy. Ông cụ cười hỏi:

    “thế anh muốn con gái hay là con trai”

    Phú ông thuận miệng liền nói:

    “dạ, con trai hay con gái gì thì cũng là con, phân biệt mà làm gì hả cụ”

    Ông cụ lại cười ồ lên, nói:

    “thế thì dễ quá”

    Cụ cuối xuống chỉ tới một đoạn xa xa, bảo với phú ông cứ cuối xuống
    nhặt ba viên đá. Nhặt xong đem về thoa lên tóc vợ, nhất định sẽ được
    như ước muốn. Phú ông tưởng cụ già đang đùa, vừa định quay lại đưa cụ
    về chỗ cũ thì bỗng nhiên, có một luồng gió mát lạnh thổi qua người ông,
    cuốn mây bay lên trời. Phú ông chợt vỡ lẽ thì ra có thần nhân thử lòng.
    Phú ông bèn sụp lạy rồi vội vã chạy đến chỗ thần nhân đã chỉ. Ông thấy
    có rất nhiều viên đá, đủ các màu sắc sặc sỡ, viên nào cũng chứa tới hai
    ba màu khác nhau trên đó. Phú ông quan niệm thứ gì đơn giản hóa ra lại
    dễ thương nhất, ông bèn chọn các viên đá chỉ độc một màu duy nhất: màu
    trắng như nước, màu vàng như nắng và một viên màu xanh ngắt như lúa.
    Phú ông làm y lời cụ già đã dặn, đem đá vuốt lên tóc vợ mình. Quả
    nhiên, sau mấy ngày, vợ ông đã mang thai. Chín tháng sau, bà sinh một
    lúc ba đứa con gái. đứa nào đứa nấy nhỏ như hòn đá. Lạ một nỗi, mới
    sinh ra mà ba đứa đã mang ba mái tóc vừa dài vừa mượt mà, lại còn mang
    ba màu khác nhau. Bà vợ hoảng sợ la làng, nhưng phú ông lại bảo đó là
    con của trời, khác người là phải. Từ sau đó, ông cố nuôi nấng ba đứa
    trẻ, nhưng có cho ăn uống bao nhiêu, cơ thể của chúng cũng chỉ nhỏ bằng
    hòn đá ông đem về. Đặt tên cho từng đứa theo cái màu mà chúng có. Cô cả
    có mái tóc màu trắng bạc và trong vắt như nước, ông đặt tên là Bạch
    Thủy. Cô thứ hai có tóc màu vàng chói như mặt trời, ông gọi là Hoàng
    Nhật. Cô út dễ thương nhất, có mái tóc màu xanh, gợn và rung rinh như
    lúa chín, đặc biệt cô bé có hai sợi lông mày dài ngoẵng cũng màu xanh.
    Ông đặt là Đỗ Mi.

    Phú ông thương con lắm, có đi đâu cũng mang con theo. Ở nhà thì ông
    cũng toàn dành thời gian cho chúng. Ông vui miệng nói ba đứa con đẹp
    như ba bông hoa, sau này nếu mà chết đi, ông hy vọng cả nhà của mình
    cũng sẽ hóa thành năm bông, sẽ mãi mãi ở bên nhau. Vợ ông bảo ông nói
    nhảm, nhưng ông cứ cười hì hì mà nhắc đi nhắc lại mãi.

    Tài sản và công việc của ông cứ giao cho Đường Kính xử lý. Gã này làm
    ăn dối trá, lại có mắc tật nghiện rượu. Bao nhiêu tiền cũng đem đi uống
    cho thả cửa. Chốc chốc, của tiền cứ thế mà đi sạch, nhiều vụ làm ăn
    thất bát, bị người ta lừa mất một lúc cả đống tiền. Sợ bị anh la, gã ta
    giấu biệt. Đến một hôm, có mấy quan tham nhận hối lộ đến lừa gạt, đổ
    cho nhà họ Đường tội buôn lậu. Gã Đường Kính vốn ngốc nghếch lại nhát
    gan, bị lừa cho uống rượu rồi ký tên giấy buôn lậu lúc nào không biết.
    Đường Hồng vừa nghe thấy liền lên cơn đau ngực, chỉ vài ngày sau là đổ
    bệnh nặng.

    Quan quân xông vào nhà tịch thu toàn bộ sản điền, tiền bạc, phú ông
    trong một khoảnh khắc mất trắng cả gia tài, quá tức tối, ông uất đến
    liệt luôn cả tay chân. Gia nhân thu dọn lấy cắp mấy món đắt tiền trong
    nhà rồi chuồn hết. Có đứa còn ác tâm lấy cả mồi lửa đốt nhà. Vợ Đường
    Kính tên Thị Nuôi bỏ ba đứa con gái nhỏ vào cái tráp, rồi cõng chồng
    chạy trốn. Thị Nuôi cõng chồng đi khắp nơi tìm chỗ trú. Đi mất mấy ngày
    cũng chẳng tìm ra chỗ nào có thể ở tạm. Bà cứ chốc chốc đi hết làng này
    sang làng khác, bà xin người dân một cái ghế kéo, Thị Nuôi đặt chồng
    trên cái ghế, ngày ngày đeo dây trên lưng kéo chồng đi. Bà đi một chốc
    lại dừng nhỏ sữa cho con bú. Thấy chồng chỉ nằm một chỗ, không nói
    được, miệng bị méo do liệt, cứ ư ứ rên lên. Sợ chồng đói, bà gấp một lá
    bàng ven đường lại, vắt sữa ra rồi đưa cho chồng uống đỡ khát. Đi hết
    mấy ngày mà cũng chẳng tìm ra nơi trú chân, người thị gầy rọp đi, sữa
    cũng cạn dần.

    Một bà già đi ngang qua thấy thị bèn vẫy tay bảo dừng, bà móc trong túi
    ra một nắm cơm cười bảo thị ăn đi. Lạ thay sau khi thị ăn xong, cơ thể
    bỗng trở nên khỏe mạnh và no căng cả bụng. Bà già cho thị một cây đàn
    nhị, bảo vừa đi vừa kéo nhạc kiếm cơm. Nói xong chưa kịp để Thị Nuôi
    cảm ơn, bà cụ bước nhanh rồi biến mất.

    Trời mưa tầm tã, thị cố lắm mới tới được một ngôi làng gọi là làng Mùi.
    Thị đi mãi mới thấy một cái chùa nhỏ bỏ hoang, mừng rỡ, thị đem chồng
    và con gái vào trong chùa trú đỡ. Chỉ định ở vài ngày rồi đi tiếp,
    nhưng không hiểu sao không khí trong chùa rất ấm áp và thân thiết với
    thị. Thị đành xụp lạy phải tội với nhà chùa rồi cùng chồng con ở luôn
    trong đó. Khi nào muốn cho con bú, thị sợ ô uế nhà chùa liền chạy ra
    ngoài mới cho con bú được.

    Hàng ngày thị ra ngoài đầu làng kéo đàn cho khách nghe, tiếng đàn nhị
    thể hiện nỗi lòng đau đớn cứ vang lên tình tang, làm người nào đi qua
    cũng bật lên tiếng khóc thông cảm. Từ chỗ thị hay ngồi bỗng mọc lên một
    cây Quế rất to. Thế là thị dựa vào nghề đàn hát mà nuôi chồng và ba đứa
    con gái.

    Sống trong chùa, con gái của thị trở nên mạnh khỏe. Trước sự chứng kiến
    đầy kinh ngạc của người mẹ, ba đứa con gái bỗng chốc hóa thành kích
    thước của một người bình thường. Chúng lớn nhanh như phỗng, đứa nào đứa
    nấy mỗi ngày chỉ bú có chút sữa mà trở nên xinh xắn khác thường. Năm
    mười tám tuổi, ba đứa đã trở thành ba thiếu nữ như bao người khác. Ba
    chị em tuy mỗi người có một tính cách khác nhau, nhưng cả ba đều hiếu
    thuận và có điểm đặc biệt. Đặc biệt là người chị lớn Bạch Thủy, khuôn
    mặt trong vắt yếu ớt. Mỗi động tác của cô mềm mại tựa như nước chảy. Từ
    nhỏ Bạch Thủy đã thông minh và hiếu học. Dù biết nhà nghèo và làm thân
    con gái, không được quyền đến lớp, nhưng Bạch Thủy vẫn lén nhìn trộm
    vào lớp học hoặc mượn vở bạn học thuộc lòng. Nét hiền lành của Bạch
    Thủy làm cho mọi người không ai nỡ từ chối cô bé, sau này ngay cả thầy
    đồ cũng âm thầm dạy chữ cho cô. Bạch Thủy học một hiểu mười, năm mười
    tám tuổi, Bạch Thủy đã được công nhận còn giỏi hơn cả thầy mình. Nhưng
    cô bé không đi thi được nên đành dùng chữ nghĩa làm gánh hàng mà bán
    kiếm cơm. Cô viết những câu đối và đem ra chợ đứng bán, nhưng ngôi làng
    nghèo nàn thì làm gì có ai thưởng thức chữ của cô. Đến một ngày, Bạch
    Thủy phát hiện có những đứa bé nghèo cứ len lén nhìn gánh chữ của mình,
    hỏi ra mới biết các em không có tiền đi học. Bạch Thủy liền về chùa mở
    một lớp học nhỏ, dạy chữ miễn phí cho con nít trong làng. Dân làng phản
    đối, người ta bảo rằng không thể để một đứa con gái dạy học được, làm
    thế chẳng khác nào bôi trấu vào cái chữ. Bạch Thủy không nghe, cứ kiên
    trì mở lớp. Hễ dạy một buổi là có người đến phá một lần, họ lấy ném vào
    lớp học. Con nít có đứa vỡ đầu chảy máu, có đứa bỏ chạy tán loạn. Nước
    mắt lưng tròng, Bạch Thủy không còn kiên nhẫn mở lớp. Cô lại lấy gánh
    hàng viết chữ mà bán cầm cơm.

    Hoàng Nhật tính tình vốn mạnh mẽ, tóc cột cao, mặt quần cột giây xỏ
    chân. Nhìn chẳng khác gì một đứa con trai. Hoàng Nhật thì không ham học
    như chị, cô lại thích những trò chơi mạnh mẽ, thường lén chạy chơi với
    mấy đứa con trai quanh xóm, hết túc cầu rồi lại đánh khăn, đánh đáo.
    Thành thiếu nữ mười tám rồi, cô vẫn còn ham chơi như một đứa con nít.
    Hoàng Nhật chơi rất thân với một anh chàng nhà giàu họ Nguyễn, tên là
    Qua Đô. Hai đứa chơi với nhau và không giữ kẻ, vui thì cười nói, bực
    thì đánh nhau, trông chẳng khác thì hai thằng con trai mới lớn. Một lần
    câu cá, không may Qua Đô bị té, Hoàng Nhật ra sức cứu anh chàng, kể từ
    đó, Qua Đô yêu Hoàng Nhật lúc nào không biết. Mỗi khi Qua Đô dẫn Hoàng
    Nhật về nhà chơi, cha mẹ cậu có vẻ không hài lòng vì cho Hoàng Nhật là
    đứa thất học, lại nghèo mạt rệp. Nhiều lần còn tỏ thái độ thô lỗ với
    Hoàng Nhật, cô chẳng bao giờ biết nhịn nhục, một là một, hai là hai.
    Người ta mắng cô, cô mắng lại không khoan nhượng, chẳng thèm vị nễ. Một
    lần còn lỡ lời hỗn láo bị mẹ Qua Đô tát cho mấy bạt tai. Hoàng Nhật tức
    mình không thèm chơi với Qua Đô nữa, từ đó cậu buồn đến sinh bệnh.
    Thuốc gì cho uống cũng không khỏi, ngày càng lả đi. Hoàng Nhật biết
    chuyện buồn rầu, đem tâm sự lại với mẹ. Thị Nuôi thương con gái không
    biết làm sao liền dạy cho cô bé chơi đàn nhị. Hoàng Nhật tuy có tính
    con trai nhưng không hiểu sao lại tỏ ra hợp với món nhạc cụ này, càng
    chơi càng khéo. Cô hạ quyết tâm, thỉnh thoảng lại lén đến thăm Qua Đô.
    Hoàng Nhật nhận ra mình cũng thương người ta mất rồi.

    Cô út Đỗ Mi là đứa quái tướng nhất trong ba chị em. Trong ba đứa con,
    Đỗ Mi là đứa Thị Nuôi thương nhất. Đỗ Mi có bề ngoài kì dị và xấu xí,
    hai sợi lông mày dài đến tận cằm, tay chân ngũ đoản, thứ nào cũng chỉ
    ngắn bằng phân nửa người khác. Đỗ Mi lại vốn đần độn, chẳng hiểu biết
    gì nhiều, được cái cô bé rất thương cha, nhìn người cha tàn tật, cô
    không đành. Ngày nào từ sáng tới tối, cô bé cứ bóp tay, bóp chân cho
    cha, cố làm ông hoạt động trở lại. Hai cha con cứ thủ thỉ với nhau mà
    vui sống, cả ngày chỉ có cha làm bạn nên Đỗ Mi càng thương ông hơn. Nhờ
    sự giúp đỡ của cô con gái, bệnh của Đường Hồng cũng có chút khởi sắc.
    Đến năm con gái trở thành thiếu nữ, ông cũng bắt đầu đứng dậy và chuyển
    động được. Ông đi xin việc làm, nhưng chẳng ai nhận. Đến một lúc có lão
    làm nghề họa sư nhận Đường Hồng vào làm với mức lương bèo bọt. Đối với
    Đường Hồng thì chẳng còn gì tuyệt hơn, ông đồng ý với công việc ngay.
    Tuy đã hoạt động lại được nhưng di chứng thì vẫn còn nguyên đó. Đường
    Hồng không nói được trôi chảy, miệng của ông vẫn còn méo quẹo, gắng lắm
    mới lắp bắp được đủ một câu. Tay chân thì cứ xiên xiên quẹo quẹo, nhưng
    ông cố gắng hết mình. Công việc của ông là xếp tranh trong phòng kho
    cho ngăn nắp. Những ngày đầu, ông làm cho người ta thất vọng tràn trề,
    sắp bao nhiêu lần thì bấy nhiêu lần đống tranh rơi vãi lầm rầm. Rốt
    cục, một buổi chiều nọ, người ta bảo ông vào nhận tiền công rồi ra về.
    Cái mặt méo của Đường Hồng càng co lại nhăn nheo hơn, nước mắt nước mũi
    chảy tèm hem tèm huốc. Miệng ông mếu máo co lên rồi lại quặp xuống cố
    lắp bắp xin xỏ:

    “vợ… tô..i…r..ất…là…tố..tt…bà…ấy..k� �o..đàn…nuô…i… s.ống..cả…gia đình… tôi.’

    Ông thở hồng hộc vì cố quá sức, rồi lại hít hà căng mặt ra, gục mặt
    xuống gồng mình rặng tiếp từng câu chữ, bàn tay ông co nắm lại giừn
    giựt như giữ cái gì đó thật chặt:

    “cả…nhà…t..tôi…cố…làm…việc. T..tôi…là…th…ằng…đàn ông mà…không n…uôi…nổi….vợ..con. X..xin…ông cho… t…ôi một cơ hội nữa”

    Nói tới đây thì Đường Hồng chịu, không thể nào gắng thêm được nữa. Nước
    mắt cứ thế mà tuôn rơi, ông quỳ xuống khóc ròng ròng. Người ta thấy thế
    thì ra sức xin ông chủ, cho Đường Hồng tiếp tục ở lại làm việc. Nễ
    những người làm công, lão họa sư cứ thế mà nhắm mắt cho qua. Dần dần
    Đường Hồng cũng xếp được ngay ngắn đống tranh trong phòng. Không biết
    vì sao nhưng từ khi có ông Đường Hồng vào làm việc, tranh của lão họa
    sư cứ thế mà đắt ầm ầm, khách mua tranh không ngừng ghé thăm.



    Cuộc sống của cả nhà Đường Hồng cứ thế trôi qua cho đến một hôm, Hoàng
    Nhật trở về trong cơn mưa khủng khiếp. Hình hài ướt nhẹp, cô bé nói với
    chị em và mẹ, cô đã có bầu với Qua Đô. Quá đau lòng và sững sốt, Thị
    Nuôi nằm khóc sướt mướt rồi than trời, than đất. Cả Bạch Thủy và Đỗ Mi
    cũng ôm cô em gái vừa trách vừa thương. Cả nhà quyết định giấu chuyện
    này với ông Đường Hồng, sợ ông buồn mà ngã bệnh nữa. Ngày hôm sau, Thị
    Nuôi mua cau trầu dắt con gái đến nhà phú ông họ Nguyễn. Qua Đô bất ngờ
    nhưng mời bà và người yêu vào nhà trên ngồi. Mẹ của Qua Đô vừa nghe
    liền tất tả chạy ra quát mắng hai mẹ con Hoàng Nhật. Bà ta xỉa xói, bảo
    rằng người ta chỉ có nhà trai bước qua dạm hỏi nhà gái, chứ làm gì có
    chuyện nhà gái đi làm chuyện ngược lại. Vả lại bà ta còn nói chuyện bầu
    bí là do con gái của Thị Nuôi hư hỏng, chứ chẳng liên quan gì Qua Đô.
    Cậu chàng nhu nhược vừa lên tiếng can ngăn đã bị mẹ đuổi vào phòng sau,
    tính tình nhu nhược chẳng thể cãi lại, Qua Đô đành liếc nhìn buồn Hoàng
    Nhật rồi lẳng lặng đi ra sau. Hoàng Nhật coi cái nhìn đó như nát dao
    găm, chẳng biết làm thế nào. Cô khóc miên man sau lưng mẹ. Thị Nuôi nín
    nhịn vì con, bà đẩy nhẹ khay cau về phía mẹ Qua Đô, nói:

    “thôi thì, chúng nó đã lỡ lầm, coi như đây là cái tội của tôi, tôi xin
    bà cho chúng nó lấy nhau, cũng là cái phước của chúng nó, cũng là cái
    phước của chúng ta”

    Vừa nghe xong, mẹ Qua Đô nổi đóa, bà ta hất khay trầu vào người Thị
    Nuôi rồi cho gia đinh cầm gậy đuổi đánh hai mẹ con. Hoàng Nhật lấy thân
    che kín người mẹ, cô bị nhiều roi nện đến thừa sống thiếu chết. Đánh
    cho đã tay, người nhà họ Nguyễn đẩy hai mẹ con ra khỏi cửa, dập xuống
    bùn đất trong cơn mưa như thác lũ.

    Hoàng Nhật vừa bị lôi ra liền té xỉu, Thị Nuôi cắn răng cõng con gái về
    chùa. Sau hôm đó, Hoàng Nhật bị bệnh thập tử nhất sinh, lang trung đến
    khám thì bảo cái thai đã xẩy, còn người mẹ thì chỉ còn chờ chết. Cả mẹ,
    cha, chị, em đều ngồi quanh giường Hoàng Nhật ngồi khóc. Thị Nuôi chỉ
    biết lạy tượng Quán Thế Âm cho con gái mau qua khỏi. Đêm hôm đó, Hoàng
    Nhật bừng tỉnh, chưa bao giờ cô thấy đau đớn về mặt tinh thần lẫn thể
    xác như thế, thấy người nhà đã ngủ, cô chảy dài nước mắt rồi chụp lấy
    cây đàn nhị bỏ đi khỏi chùa.

    Cơn mưa càng lúc càng to, Hoàng Nhật lết đi trong khi cơ thể bị những
    cơn gió dữ dập mạnh vào người. Tới trước cửa nhà họ Nguyễn, Hoàng Nhật
    run lên như cầy sấy rồi cắn răng ngồi bệt xuống, kéo đàn. Tiếng đàn não
    nề vang lên trong tiếng mưa gầm. Hoàn toàn không ai nghe thấy tiếng đàn
    chỉ trừ một người. Đêm đó Qua Đô thấy lòng như lửa đốt, vừa nghe thấy
    việc mẹ cho người đánh Hoàng Nhật, cậu đã muốn nổi điên. Đêm nay, tiếng
    đàn não nề từ đâu vang lại làm Qua Đô như điếng người, cậu xông cửa
    chạy ra thì thấy Hoàng Nhật đã nằm ngất từ bao giờ. Thân cậu run lên,
    Qua Đô ôm Hoàng Nhật vào người rồi cầm đàn chạy trốn. Người nhà vừa
    xông ra thì chẳng thấy cậu chủ đâu. Cơn mưa quá lớn đã lấp đi hoàn toàn
    mọi lối đi cũng như tầm nhìn. Qua Đô bế Hoàng Nhật đi hơn một giờ thì
    nhìn thấy một ngôi nhà hoang, cậu liền chạy vào trong đặt Hoàng Nhật
    nằm xuống. Cậu lay mãi, rồi hô hấp, nhưng chẳng thấy Hoàng Nhật đỡ hơn.
    Nước mắt tuôn rơi, Qua Đô run người đưa tay lên mũi Hoàng Nhật, cô đã
    tắt thở tự bao giờ. Qua Đô như lặng người đi, cậu gào ré như một thằng
    điên, bứt tóc cào tai. Cậu hét như gào thi với tiếng trời gầm. Qua Đô
    như hóa điên, cậu cầm cây đàn nhị trong tay rồi đâm đầu chạy đi trong
    mưa gió.

    Xác của Hoàng Nhật tự nhiên bốc lên một mùi thơm nồng rồi tự hóa thành
    một bông hoa vàng như ánh nắng. Bông Hoa cắm xuống nền đất gạch rồi
    phát ra ánh sáng lấp lánh như hoa nắng nổi trong cơn mưa…



    Sau khi thấy con trai biến mất, mẹ Qua Đô và phú ông họ Nguyễn cho
    người xốc xáo đi tìm. Người hầu lùng xục khắp mọi nơi nhưng chẳng thấy
    cậu chủ đâu. Mẹ Qua Đô thì như phát điên, giận cá chém thớt. Bà ta bảo
    nhất định là cái nhà họ Đường sống trên chùa kia bắt cóc con Qua Đô.
    Thế là bà ta nhét tiền cho quan huyện, bảo ông đem lính gông cổ cả nhà
    Đường Hồng cho vào tù.

    Sau khi vào tù, nhà của Đường Hồng bị đối xử hết sức thậm tệ. Người ta
    không cho họ ăn, cũng chẳng cho họ có thời gian nghĩ ngơi. Hằng ngày mẹ
    của Qua Đô vào đánh đập và chửi bới, bắt họ khai ra đã bắt con bà đi
    đâu. Thị Nuôi và Đường Hồng chỉ biết câm lặng nín nhịn mà không phản
    kháng gì. Bạch Thủy thì khóc sướt mướt còn Đỗ Mi thì ú ớ chẳng biết nói
    gì. Điên tiết khi thấy con nhỏ Đỗ Mi cứ ư ứ, khóc lóc và ôm lấy chân
    mình. Không biết rằng cô bé đang ra sức cầu xin bà phú hộ, bà ta chỉ
    thấy cô thật kinh tởm. Tiện tay, bà ta cầm hai sợi lông mày dài giựt
    mạnh lên. Máu từ trên mắt cô bé ứa ra loang loáng, hai sợi lông mày bị
    đứt ra quấn chặt lấy tay bà phú hộ. Bà ta hốt hoảng la lên rồi ra sức
    gỡ hai sợi lông mày ra khỏi bàn tay. Nhưng càng gỡ ra thì chúng càng bó
    chặt lại đau đớn hơn. Cuối cùng, những sợi lông mày cứng lại sắc như
    dao, quấn trên tay bà ta đến bật cả máu. Khó khăn lắm bà ta mới kêu
    người lấy kéo cắt ra được. Sợ hãi, bà ta chẳng dám ở lâu thêm nữa liền
    ra lệnh đi về. Đỗ Mi bị đứt lông mày chỉ còn biết thoi thóp nằm trong
    lòng mẹ. Cô không suy nghĩ được nhiều nên cũng không hiểu chuyện, chỉ
    thấy bà phú hộ bỏ đi mà không mắng chửi mẹ mình nữa, cô bé mỉm cười hài
    lòng. Trong giây lát, Đỗ Mi nhắm mắt lại rồi nhắm mắt. Cơ thể Đỗ Mi co
    lại hóa thành một bông hoa màu xanh cắm chặt xuống đất nhà tù.

    Vài ngày sau, ba người nhà Đường Hồng được thả ra. Họ về lại ngôi chùa
    hoang cũ, nhưng Đường Hồng và Thị Nuôi vì nỗi đau mất đi hai đứa con,
    họ lâm bệnh và nằm bẹp một chỗ, chỉ chảy ra những giọt nước mắt ai oán.
    Cả nhà chỉ còn trông chờ vào những chữ Bạch Thủy bán ra. Nhưng công
    việc này của cô chỉ là phụ, làm sao có đủ tiền để nuôi cả nhà ba miệng
    ăn? Bấy giờ ở làng bên có một cậu ấm tên là Văn Bá. Tên này mới có gần
    hai mươi tuổi đã ngông nghênh đáng ghét. Đối với hắn, mọi chuyện chỉ có
    mỗi việc vung tiền ra mà tiêu sài. Cha của hắn làm quan phủ nên chẳng
    có ai dám mở miệng cãi lại hắn. Văn Bá quen thân với thủy thần sông
    Phù. Thường thường, gã thủy thần lại hiện hình lên ăn chơi với Văn Bá.
    Nhờ lễ Văn Bá cúng hậu, gã thủy thần hiển nhiên phù hộ cho cha hắn làm
    quan ngày càng phát to. Nghe tiếng làng bên có cô Bạch Thủy nổi tiếng
    xinh đẹp, Văn Bá muốn tới xem thử một lần cho biết, thế rồi một ngày
    trời nắng, hắn gọi thủy thần lên và cùng qua làng bên chơi. Vừa thấy
    nhan sắc của cô, cả Văn Bá và thủy thần đều mê đắm. Thủy thần nghe Văn
    Bá nói sẽ bắt cô ta về làm vợ, mới nghe hắn đã tỏ ra không hài lòng,
    nhưng chỉ bấm bụng làm thinh. Tối đó thủy thần hóa thành một người mua
    chữ, tới hỏi xem Bạch Thủy muốn bán chữ như thế nào. Vốn ngây thơ và dễ
    tin người, Bạch Thủy vừa đem chữ ra mời khách đã bị thủy thần bắt về
    sông. Văn Bá biết chuyện vô cùng tức tối, thề rằng từ nay không thèm
    cúng bái cho thủy thần nữa. Có được người đẹp, thủy thần xá gì chuyện
    ăn uống, hắn ép buộc Bạch Thủy phải làm vợ của mình. Dưới đáy sông, cô
    chỉ một lòng lo cho cha mẹ bị bỏ đói. Nước mắt chảy dài, Bạch Thủy cầu
    xin thủy thần cho về với cha mẹ. Thủy thần khuyên nhủ cũng có, đe dọa
    cũng có, nhưng nhất định Bạch Thủy không chịu ưng thuận. Riết rồi hắn
    nổi điên, hóa phép cho nàng biến thành con cá rồi đem tặng lại cho Văn
    Bá. Văn Bá vừa thấy con cá liền nổi giận đùng đùng, quát với thủy thần,
    nếu không trả người thì còn đem tôm cá đến đây làm gì. Thủy thần vuốt
    giận Văn Bá rồi từ từ giải thích. Con cá này chỉ đến nữa đêm là trở lại
    thành người, hỏi nó nếu ưng thuận làm vợ Văn Bá thì giải phép, còn
    không thì cứ làm cá mãi mãi. Đến đêm, Văn Bá chờ cho đến khi cá hóa
    thành người, hắn ra sức ép buộc cô phải về làm vợ của hắn. Bạch Thủy
    một mực từ chối, hết ngày này sang ngày khác. Văn Bá đành chịu thua,
    nhốt con cá trong cái ao to, không chờ cô hiện hình nữa. Chỉ tức nỗi
    hắn bị nhục mặt, Văn Bá cho xích con cá nhỏ lại trong ao, hằng ngày đổ
    nước dơ vào cho con cá uống. Lạ thay, bao nhiêu nước dơ đổ vào đều biến
    hóa, mọc thành bèo dạt. Còn riêng bên cạnh con cá thì nảy ra biết bao
    nhiêu là hoa sen trắng tinh. Văn Bá càng như bị chọc cho lộn ruột. Hắn
    cho vớt toàn bộ bèo lên rồi dập cho sen nát bấy. Hắn bóc con cá ra rồi
    hét bảo nhà bếp, tối nay làm thịt con cá.

    Trong nhà bếp có bà chuyên thái rau là thiện tâm, bà thương cho cô gái
    bị thủy thần hóa thành cá. Chờ mọi người đi khỏi, bà tháo xích cho con
    cá rồi thay một con khác vào. Bà lại thả nó vào ao để trốn. Nữa đêm,
    đến hạn giải phép, Bạch Thủy hóa lại thành người. Không bị xích nữa, cô
    bé thoải mái lẻn đi trốn về chùa. Chạy đến gần sáng thì Bạch Thủy mới
    về chùa được, không ngờ vừa tới cổng chùa, ánh sáng bừng lên, cô lại
    hóa thành con cá giảy nảy. Thị Nuôi lúc này đã khỏe được ít nhiều,
    thương chồng bệnh hoạn, bà cố ra chợ đem đàn đổi lấy chút tiền mua thức
    ăn. Nào ngờ thấy có con cá nằm trên đất, bà mừng quá vội đem nó đi nấu
    canh. Bà đâu biết đó là con gái của mình, con cá đem nấu canh xong bị
    vứt xương trên cái chum đựng nước. Đường Hồng ăn canh xong đột nhiên
    thấy buồn đau vô hạn. Nước mắt ông chảy xuống mà chẳng hiểu làm sao,
    chỉ biết từ khi nuốt thịt cá vào bụng, ăn bao nhiêu ông lại ói ra hết,
    rồi cứ nhìn bãi ói mà khóc. Sau cùng ông qua đời trong cơn khóc ngất
    lên của vợ. Xương cá trong chum hóa thành bông hoa trắng như nước, mọc
    ngay trên cái chum. Đường Hồng chết đi hóa thành đóa hoa ba màu: trắng,
    vàng và xanh, như thể ông đang ôm trọn ba đứa con gái trong tay mình.
    Thị Nuôi quá đau lòng bèn chạy ra cây quế giữa làng treo cổ tự vẫn. Sau
    khi bà chết đi, hóa thành một đóa hoa đen như cục đất, nằm gọn dưới gốc
    cây quế, như mãi mãi muốn ngồi đó đợi chồng và con mình trở lại.Edited by: \1

  2. #2
    Ngày tham gia
    Jun 2009
    Bài viết
    16
    Cảm ơn
    0
    Được cảm ơn 0/0 bài viết
    Ba Miệng Giếng Thần











    Ở phố cổ Hội An, bình thường vẫn đông đúc nhộn nhịp là thế nhưng hiếm
    có ai biết, một số người vẫn giữ một tập tục kỳ quặc cho riêng mình.

    Trước đây, khi các lễ hội xưa cũ vẫn còn được giữ gìn, bà con quanh
    vùng thường lui tới một gốc đồi xấu xí và xa lạ. Một số người không
    tham gia lễ hội mà chỉ muốn viện cớ để ra khỏi nhà, tìm đến nơi đó. Vào
    dịp lễ trăng rằm, trung thu, dân tình náo nức đi trẩy hội, cả người tây
    lẫn người ta đều vui vẻ diện đồ dạo phố. Chung quanh con đường chính,
    chỗ nào cũng bày ***g đèn đỏ, trắng, đủ các màu sắc lấp lánh bắt mắt
    khác nhau. Nhưng với một số người lập dị, họ không làm thế, họ ra khỏi
    nhà vào buổi hoàng hôn và chỉ trở về lúc nửa đêm tối mịt. Ai hỏi thì họ
    chỉ cần đáp:

    “tôi đi chơi hội, chỉ về hơi muộn một tí mà đã…”

    Nhưng hầu hết không ai hỏi, và họ cũng mau chóng cho qua chuyện đó, không bao giờ nhắc lại cho đến lễ hội tiếp theo…



    Trong vùng sâu hút, một số ngôi nhà xập xệ, cũ nát vẫn còn nằm đó từ
    cái thời nảo thời nào. Người dân ở đây không muốn xây lại, chẳng đời
    nào họ muốn đổi kiểu sống của nhà mình, kể cả khi họ có một cái cửa
    chính bằng gỗ sắp trật bản lề tới nơi rồi, thậm chí còn có cái văng cả
    mấu chốt ra nữa. Ấy vậy mà những người chủ ngoan cố và hết sức hoài cổ
    đó vẫn một mực không chịu bỏ một xu nào ra để sửa chữa hoặc trang hoàng
    lại ngôi nhà của mình. Đến một lúc, ngay cả những người sống trong nhà
    đó cũng phải lên tiếng trách móc

    “Ông có lẩn thẩn không đấy? trời sắp có bão mà ông vẫn cứ để cái mái tôn cũ xì ấy à ?”

    “Bà thì biết cái gì? nhà này mà đổi thì cứ đi mà húp cháo”

    Rốt cục thì chẳng cái nào trong số những ngôi nhà đó được tu sửa, nhưng
    ai mà quan tâm cơ chứ? Miễn là họ vẫn còn đủ tiền để trả các khoản
    điện, nước dân sự, còn thì chẳng ảnh hưởng gì đến các khu phố du lịch
    xinh đẹp ngoài kia, cứ thế là phận ai nấy sống.



    Nguyên nhân của tất cả các sự việc này bắt nguồn từ một truyền thống xa
    xưa của tổ tiên. Hễ đến dịp hội lễ là bà con lại kháo tai nhau đi
    “nguyện thần linh” trên ngọn đồi trống phía tây. Ở đó có một cái giếng
    cổ, bình thường nhìn vào chỉ thấy đó là một cái giếng cạn, nhưng thấy
    ai thành tâm, nó lại chảy ra một nguồn nước trong veo, uống thứ nước đó
    thì muốn tài có tài, muốn lộc có lộc, cầu gì được nấy. Nhưng từ trước
    đến giờ chẳng thấy ai thực gì cầu gì được nấy cả. Kể cả những người đi
    “cầu” thường xuyên nhất. Dù rằng nhiều khi, có những lời kháo tai nhau
    như:

    “bà biết sao không? Tôi nghe nói bà Chín nhà xóm bên vừa đi cầu thần về đấy!”

    “thế à, thế có được gì không ?”

    “được quá chứ lại, đã bảo giếng thần cơ mà”

    “thế bà ta ước cái gì ?”

    “bà ta ước có một đứa con trai, thế có được không ?”

    “không biết, nhưng mà hình như vừa đi bệnh viện về, mừng lắm”



    Có đúng hay không, đó là một vấn đề, nhưng chả cần làm rõ hoặc bới móc
    sự thật. Càng lúc lời đồn về cái giếng cạn càng lan mạnh, đến nỗi bây
    giờ, nó đã là một cái lệ. Hễ đến mùa trăng tròn, người ta lại lũ lượt
    đi “cầu giếng”, cầu cho sự khát khao vô vọng…



    Nhà bà Mai không có con cái, bà ta nhận nuôi một cô bé ở trại mồ côi về
    làm con gái. Bà đặt tên cho bé là Hiền, coi như con đẻ. Hiền từ nhỏ đã
    xinh đẹp và tháo vát, thông minh hơn người. Em được mẹ nuôi cho ăn học
    đàng hoàng, lớn lên trong tình thương đầm ấm, không bao giờ em phải
    biết đến cực nhọc. Nhà bà Mai tuy không giàu có, tiền muôn bạc vạn
    nhưng cũng thuộc dạng dư giả và có đồng ra đồng vào. Bà Mai sống bằng
    nghề kinh doanh hàng may mặc truyền thống, bán cho du khách nước ngoài
    đi chơi phố cổ. Làm nghề này cũng an nhàn, bà Mai không mong ước nhiều.
    Từ khi có con gái để nuôi, bà càng vui hơn và yêu cuộc sống hơn.

    Nhưng rồi một ngày, bà mắc một căn bệnh lạ và quái quỷ. Đó là năm Hiền
    học lớp mười, em vừa tròn mười lăm. Cái tuổi trăng rằm không tạo được
    cho em niềm vui nào đặc biệt mà còn gây cho em một nỗi buồn không biết
    cất đâu cho hết. Năm đó, nhằm ngày thu mưa bão, có một gia đình người
    Hoa sang chơi dạo phố. Như buổi thường, khách khứa thường dừng lại ở
    nhiều cửa hàng vải vóc để xem và mua hàng làm kỷ niệm, người nào cũng
    mua một hay hai món gì đó sau khi đã ghé thăm nhiều lượt hàng quán.
    Nhưng gia đình người Hoa này chỉ ghé mỗi cửa hàng quần áo may sẵn của
    bà Mai. Không biết điều gì khiến họ chú ý đến cửa hàng của bà, nhưng bà
    cũng không quan tâm lắm. Bà cứ để khách tự nhiên xem hàng và lựa chọn.
    Hiền lúc đó cũng đang rảnh và giới thiệu hàng cho khách hộ mẹ. Gia đình
    đó gồm ba người, có lẽ là cặp vợ chồng với đứa con lớn. Đứa con gái
    cũng trạc tuổi Hiền, nó cao và có đôi mắt sắc sảo. Họ không nói gì
    nhiều nhưng theo Hiền thấy thì họ cũng biết nói đôi chút tiếng Việt.

    Một lúc lâu sau, bà mẹ bước tới hỏi bà Mai:

    “tôi muốn mua cửa hàng này, bà có bán không ?”

    “xin lỗi” Bà Mai hơi ngạc nhiên và tưởng bà này đang hỏi đùa

    “tôi muốn mua cửa hàng này, bà có bán không ?” Bà ta lập lại

    “tôi không bán nhà” Bà Mai cười rồi phẩy tay

    “tại sao ?”

    “bà muốn mua gì ạ ?” Bà Mai bắt đầu thiếu kiên nhẫn trước màn đùa dai

    Bà kia không nói nữa, lại lặng lẽ đi tìm ông chồng của mình… Bà Mai có
    vẻ không thích những vị khách này lắm, họ hơi lạ và khó chịu. Bà gật
    đầu với Hiền có ý để Hiền đón khách vì bà nghĩ chắc họ chẳng có ý định
    mua gì đâu. Nhưng trước khi bà vào nhà trong, cô con gái thình lình
    xuất hiện bên cạnh, liếc đôi mắt sắc lẻm nhìn bà:

    “bà có muốn bán cửa hàng này không, mẹ tôi sẽ mua với giá rất cao”

    “tôi không có hứng, cô trẻ ạ” Bà Mai sẵng giọng và ra hiệu cho cô ta tránh đường

    Cô con gái ngừng lại một chút rồi cười khẩy

    “trước đây, bà đã ước có một đứa con gái, đúng không ?”

    Bà Mai sững người trước câu nói này của cô gái lạ. Cô ta cười giảo hoạt và bỏ đi trước khi bà Mai kịp hỏi lắp bắp:

    “tại sao cô biết ?”



    Hiền đứng từ xa và tiếp tục giới thiệu hàng hóa cho khách, không hề để
    ý tới vẻ mặt của bà Mai. Một lúc sau, những người khách đi khỏi mà
    không mua được một món gì. Hiền chắt lưỡi ngán ngẩm rồi phụ mẹ dọn dẹp.



    Từ sau hôm đó, bà Mai đổ bệnh. Không ai biết bà bị bệnh gì, chỉ nghe
    nói là bà chỉ nằm một chỗ, không ăn uống được nhiều và thỉnh thoảng ói
    mửa vào lúc gà gáy. Căn bệnh kỳ lạ kéo dài gần hơn một tháng. Hiền buồn
    bã khi các bác sĩ trong thành phố lần lượt lắc đầu trước căn bệnh của
    bà Mai. Công việc buôn bán càng ngày càng khó khăn, tiền tài eo hẹp tới
    mức khủng hoảng. Bệnh của bà Mai ngày càng trầm trọng hơn, Hiền đành
    bạo gan đi làm thêm cho nhà của một gia đình khác…



    Trên con đường mòn dẫn đến ngôi nhà người bạn, Hiền cảm thấy không an
    tâm lắm. Cửa hàng buộc phải đóng cửa vì không có ai trông coi, buổi
    sáng Hiền còn liều đem các món đồ trong cửa hàng trên trường rao bán.
    Giờ thì Hiền bắt đầu đến xin phụ giúp việc vặt cho một ngôi nhà cổ qua
    sự giới thiệu của cô bạn gái thân thiết trên lớp. Cô bạn nói là nhà này
    đang cần một người phụ việc, Hiền hoàn toàn đủ tiêu chuẩn để người nhà
    ấy nhận vào. Nói gì thì nói nhưng Hiền không hề thích thú chút nào, dẫu
    sao thì đây cũng là lần đầu tiên cô bé phải đi làm người giúp việc, lại
    còn phải đi đến một nơi xa lơ xa lắc nữa. Nhìn hàng cây rậm rạp ven
    đường mà Hiền muốn rợn cả da gà. Chỉ vì cô bạn bảo làm ở đây được trả
    lương rất hậu nên cô bé mới dám đi.

    Cuối cùng thì cũng đến, ngôi nhà xi măng cũ xì xì như được xây từ trước
    công nguyên ấy. Chưa bao giờ Hiền thấy cái cổng nhà nào quái dị và cổ
    lổ sĩ như cái ở nhà này, nó cong queo và rỉ sét, kiểu này thì trộm vào
    dễ như chơi. Nhưng nội cái vẻ sầu thảm của ngôi nhà cũng đủ làm các tay
    trộm mạt rệp nhất cũng phát ngại ngùng khi có ý định đột nhập. Căn nhà
    ở ngoài nhìn vào trông như một cái chuồng gà khổng lồ, đây đó có chắp
    vá thêm vài cái hốc khác như chuột ở. Nhìn chung thì gia chủ dù muốn dù
    không cũng sẽ tạo cho khách khứa một cảm giác cực kỳ dễ khủng hoảng
    tinh thần. Hiền tự hỏi ai mà dám đến đây chúc tết nhỉ? Thôi cứ phải vào
    xem thế nào đã.

    Ngôi nhà không có chuông cửa mà cài một cái chén trước cổng, bên cạnh
    có một cái muổng nhỏ. Hiền rút cái muỗng ra đánh một cái cheeng lên
    chén. Cô bé hơi nghi ngờ về độ vang của kiểu chuông cửa này, dám đây là
    cách mà mấy người điếc bẩm sinh hay dùng để thách thức nhau lắm. Ấy vậy
    mà cũng có một ông chú tất tả chạy ra đón khách. Trông ông ta hiền và
    có khuôn mặt nhân hậu. Ông cười với Hiền và mời cô bé vào nhà. Sau khi
    hỏi han, ông ta chấp nhận Hiền vào làm việc ngay, nhưng với điều kiện,
    cô bé phải thuộc một số nguyên tắc trong nhà.



    Gớm, Hiền vừa đi vừa tự nghĩ thầm, nhà cửa lập dị mà cũng nhiều nguyên
    tắc ra phết. Cô bé vừa đi vừa tự nhẩm thầm trong bụng những lời nói mà
    người đàn ông vừa bảo. Hiền có thể làm việc từ lúc hai giờ đến cỡ hoàng
    hôn. Cô bé chỉ làm những việc được sai và cấm tiệt không được làm những
    thứ không được bảo phải làm. Ngoài ra cô bé cần giữ cho con chó mực
    ngoài vườn không được bước chân vào nhà trong, và ngay cả bản thân cô
    bé cũng không được đi vào nhà trong quá sâu mà không có ai đi kèm. Gia
    đình đó chỉ có một cụ già và hai vợ chồng sinh sống, ngoài ra không có
    con nít và người lạ trong nhà.



    Ngày đầu tiên làm việc, Hiền thấy cũng ổn, bà chủ sai gì làm nấy, không
    bảo thì không đụng vô. Công việc không nặng nhọc lắm vì dù sao Hiền
    cũng siêng năng và quen sửa soạn việc nhà với mẹ nuôi. Bảo cô bé quét
    nhà rửa chén thì dĩ nhiên, đó chẳng phải là cái gì nặng nhọc. Nhưng
    không hiểu sao, con chó mực cứ bị xích cổ ở ngoài vườn, con chó nhìn có
    vẻ thông minh nhưng đôi mắt cứ ươn ướt, nhìn đến là tội. Nó nằm dài
    trong một hốc, cho ăn chẳng ăn, cho uống chẳng uống. Chỉ lười nhát nhìn
    vào trong gốc nhà sau. Hễ có dịp nhìn thấy Hiền đi qua đi lại là nó lại
    rên ư ử, xin được mở xích ra một tí. Nhưng Hiền nào dám bước qua mặt
    con chó, cô bé chỉ chăm chăm làm cho xong việc rồi về ngay với mẹ. Bà
    đang ốm ơi là ốm ở nhà.

    Điều lạ là mỗi khi bà chủ cho Hiền cái gì mang về cho mẹ ăn là sáng đó
    bà không ói mửa nữa, ngược lại còn khỏe ra thêm một tý. Hiền kể lại với
    bà chủ nghe, bà ta chỉ cười mà không đáp. Hiền cũng không muốn nói
    nhiều, tính của cô bé là không muốn làm phiền những người xung quanh,
    hễ họ không có ý muốn làm gì hay trò chuyện về một với vấn đề gì với
    Hiền, cô bé lại thôi không nói nữa.

    Chẳng mấy chốc Hiền đã làm việc cho gia đình kỳ lạ kia được hơn hai
    tháng. Cô bé bắt đầu quen với công việc và tạm hài lòng với cuộc sống
    hiện tại. Tiền lương khá hậu của chủ nhà giúp đỡ khá nhiều cho cuộc
    sống của Hiền và mẹ em. Một mặt trả tiền học, mặt kia trang trải tiền
    nhà cửa cũng đỡ. Căn bệnh của mẹ Hiền không giảm nhiều nhưng cũng không
    có dấu hiệu nặng thêm, cô bé cũng yên tâm phần nào với hiện tại. Sẵn
    đến trung thu, cô bé còn định bụng sẽ chi tiền thuê người giúp việc,
    vừa chăm sóc mẹ vừa phụ bán hàng luôn. Nếu mùa trung thu này mà hàng
    hóa tồn đọng được bán đi thì ít nhiều cũng thu về được mớ tiền.

    Giáp trung thu độ ba tuần, mọi người bắt đầu nô nức đi chùa cầu may,
    hàng quán chợ đò sôi nổi bày sạp, người người vui vẻ sắm sửa cho mùa lễ
    hội ***g đèn. Riêng Hiền vẫn cứ cố gắng làm cho bằng hết công việc được
    giao, bận rộn nhưng cô bé vẫn cảm thấy hài lòng. Đột ngột chiều hôm đó,
    bà cụ già cho phép em nghỉ ngơi và chỉ nhờ em đi với bà đến một nơi,
    xong việc em có thể được nghỉ sớm.

    Hôm đó là một ngày kỳ lạ, con chó mực được tháo xích và dắt đi theo bà
    cụ. Bình thường mắt nó vẫn sáng rực lên khi Hiền có ý định mở dây xích
    cho nó, nhưng hôm nay thì không, nó càng tỏ vẻ khó chịu và ủ rũ hơn.
    Hai người bắt đầu cuốc bộ cùng con chó đến một ngọn đồi thấp trống trải
    về phía tây. Khu đồi xấu xí đầy vẻ âm u và lạnh lẽo. Hiền phải chui
    theo mấy lùm bụi với cùng bà cụ đến được nơi cần đến. Cuối khu đồi, ở
    một chỗ thật kín, Hiền thấy có một miệng giếng thô và cạn nước. Ở dưới
    giếng đầy cát và mạng nhện. Bà cụ bảo Hiền đứng đó chờ, còn bà thì kéo
    con chó đến sau một lùm cây bụi khác. Người ta nói một cô gái mới lớn
    thì chẳng thể nào tránh khỏi sự tò mò. Đến một lúc sau không thấy bà cụ
    quay lại, cô bé chợt dợm chân đi theo lối của bà cụ lúc nãy. Hiền vạch
    gần hai lớp lá bụi thì thấy được một con đường mòn. Cô bé bước dọc theo
    con đường đó. Không xa lắm, cô bé thấy bà cụ và con chó ở phía xa xa.
    Nghe thấy tiếng động, bà cụ quay mặt nhìn ra phía sau, theo bản năng
    Hiền vội núp lẹ làng vào lùm cây gần đó.

    Hít một hơi thật sâu, cô bé ghé mắt nhìn lại chỗ bà cụ. Ô, bà cụ và con
    chó đang đứng trước một cái giếng khác, trông y chang cái giếng lúc
    nãy. Hiền dỏng tai lắng nghe, hình như bà ta đang nói với con chó cái
    gì đấy.

    “Thế nào, con ranh kia, mày định bắt tao chờ đến khi nào đây, khi nào tao mới có đủ số vàng tao muốn ?”

    “Tôi đã nói với bà rồi, tôi không biết số vàng nào cả, bà có ép tôi cũng vậy”

    “Đừng láo, tao biết mày biết cách, mày có nhiều cách, nếu mày không nói, mày sẽ là một con chó mực suốt đời”

    “Mãi mãi cũng vậy, tôi không biết và cũng không muốn nói cho bà biết bất cứ điều gì hết”

    “Được lắm, mày sẽ phải nói thôi, nếu hôm nay mày không nói, tao sẽ ăn thịt mày”

    Hiền hoảng hồn sau khi nghe xong cuộc trò chuyện. Trời ơi, sao lại có
    những chuyện như thế này, Hiền chợt thấy lạnh ngắt sóng lưng, từ trước
    đến giờ cô bé đã phải làm việc trong một ngôi nhà toàn phù thủy. Làm
    thế nào bây giờ? Hiền không ngờ trong lúc vô ý, cô bé bị xẩy chân, quẹt
    vào một đám lá gây nên tiếng động khá lớn. Bà cụ kia quát lên ông ổng:

    “Đứa nào đấy ?”

    Bà ta chạy vùn vụt lên chỗ của Hiền, ngoe ngoắt cái đầu già nua chằm
    hăm quan sát tứ phía, Trông bà ta có vẻ vô cùng lo lắng và sợ hãi. Bước
    chân của bà ta bắt đầu lướt qua chỗ của Hiền, cô bé núp trong một hốc
    đá. Bà già bước đi chậm rãi, không quên nắm chặt sợi dây xích con chó
    trong tay. Vài phút sau, Hiền lạnh toát cả người khi bà ta bắt đầu dừng
    lại trước hốc đá cô bé đang núp. Chân của bà ta sần sùi và sục sạo tìm
    tòi kẻ phá đám. Bất chợt con chó mực phát hiện ra Hiền, suýt chút nữa
    nó đã sủa lên nhưng kịp dừng ngay lại. Con chó lắc đầu ra hiệu cho Hiền
    đừng di chuyển, rồi nó chợt kêu lên với bà già:

    “Tôi nghe có tiếng người phía kia”

    “Ở đâu ?” Bà ta quay lại quát hỏi ngay

    “Phía kia, gần miệng giếng”

    “Dắt tao đến đó” Bà già gằn giọng ra lệnh

    Bà ta bỏ đi kéo theo con chó mực, nó chỉ kịp hất đầu lên phía trên con
    đường mòn, ra dấu bảo Hiền quay lại chỗ cũ. Không chần chừ một giây
    nào, thừa lúc bà già không để ý, Hiền phóng ngay người nhanh chóng biến
    khỏi khu vực đó. Cô bé đứng ngay tại chỗ cái giếng thứ nhất và đứng chờ
    bà già đi ra.

    Cỡ năm phút sau, Hiền đã thấy bà cụ lò dò cùng con chó mực đi ra khỏi bụi cây. Bà ta hỏi Hiền:

    “Nãy giờ cháu vẫn đứng ở đây chứ ?”

    “Vâng ạ”

    “Có phải cháu không vâng lời và tự tiện đi tìm thứ gì đó không phải của mình không ?”

    Sợ hãi với giọng điệu lạnh lùng của bà già, Hiền phủ nhận ngay:

    “Không ạ, cháu không hề rời khỏi đây”

    Bà ta không nói gì nữa và lại giao sợi dây xích cho Hiền, bảo cô bé cùng đi về nhà.

    Trên đường đi, con chó cố tình kéo Hiền lại thật chậm, cách bà già một khoảng khá xa, nó thì thầm trò chuyện với cô bé:

    “cô bé ơi, tôi biết mẹ cô bé bị bệnh và tôi biết cả nguyên nhân lẫn cách chữa căn bệnh đó”

    “thật sao, nhưng bạn là một con chó mực, tại sao bạn biết nói, tôi có nghe lầm chăng ?”

    “bạn không lầm đâu, đích thực tôi biết nói, nhưng tôi không phải là một con chó mực, tôi cũng là một cô bé bằng tuổi bạn đấy”

    “ôi, thật vậy sao ?” Hiền ngạc nhiên thốt lên

    “ba người sống trong ngôi nhà bạn đang giúp việc thực chất là ba ông kẹ
    hóa trang thành, nói đúng hơn là chỉ có một người thôi, đó là bà già
    kia, bà ta rất tham lam và độc ác. Hai người kia cũng có một người là
    phù thủy, nhưng hắn đã bị cha tôi đánh chết. Cha tôi hiện giờ đang hóa
    thành hắn. Người đàn bà còn lại chỉ là một người bình thường. Trước đây
    lũ độc ác biết tôi là người canh giữ giếng thần nên cố tình giăng bẫy
    bắt cóc tôi. Để tiện việc tra hỏi, chúng biến tôi thành một con chó và
    xích tôi lại. Cứ tới mùa thu, chúng lại hóa thành gia đình ba người đi
    kiếm những đứa trẻ xinh xắn để ăn thịt. Chúng thường ghé qua các cửa
    hàng, phù phép cho gia đình đứa bé đó bị bệnh và lả đi, sau đó chúng sẽ
    dụ dổ để ăn thịt đứa bé đó.”

    “Vậy có nghĩa mình là nạn nhân của chúng rồi”

    “Bạn đừng lo, nếu bạn giúp mình, chúng ta sẽ cùng tiêu diệt lũ ác độc đó”

    “Nhưng làm thế nào đây ?”

    “Đừng lo, tạm thời cứ làm như không có chuyện gì xảy ra cả, cứ yên lặng chờ đợi thời cơ, bạn nhé”

    Sau ngày hôm đó, Hiền tìm cách nói chuyện riêng với con chó mực, nhưng
    nó cứ im lìm như thóc vì lúc nào bên cạnh Hiền cũng có bà chủ nhà kè kè
    bên cạnh. Không một phút nào lơ là cô bé. Hơn thế nữa, bệnh của mẹ Hiền
    đột nhiên trở nặng hơn, bà ói nhiều và chẳng ăn uống được gì. Cơ thể bà
    teo riết lại chỉ còn mỗi nắm xương. Lòng Hiền đau xót như bị muối xát
    vào, nhưng ngoài nước mắt và những lời an ủi mẹ, cô bé còn có thể làm
    được gì. Một ngày kia, ông chủ bất ngờ gọi Hiền vào phòng trong và nói
    với cô bé, ông có cách làm cho mẹ cô bé khỏi bệnh. Bà chủ nhà rất gian
    trá, mụ phù thủy già kia đã hứa với bà ta, nếu bà ta giúp đỡ mụ, bà ta
    sẽ có rất nhiều vàng bạc châu báu. Hiện giờ ông đang trá hình và tìm
    cách tiêu diệt mụ phù thủy già kia. Ông bảo với Hiền, đằng sau nhà ông
    đã tìm thấy có một cái giếng khác. Đối với mụ phù thủy thì nước giếng
    đó như một thứ vô tích sự, nó không có tác dụng với mụ, đối với mụ, nó
    chẳng khác gì nước giếng bình thường. Nhưng đối với người bị phù phép,
    nước giếng đó có tác dụng giải mọi bùa phép. Vì thế, nếu có dịp, Hiền
    phải tìm cách vào được nhà sau và đem nước giếng đó về cho mẹ.

    Nhưng không có cách gì qua mặt được bà chủ nhà, bà ta không bao giờ lơi
    tay khỏi Hiền. Nhất cử nhất động của cô bé đều bị bà ta canh chừng. Một
    hôm, bà chủ nhà có việc phải ra ngoài, hơn lúc nào hết đây là một cơ
    hội tốt cho Hiền. Ông chủ chỉ cho cô bé chỗ có miệng giếng thần. Nó
    được giấu kỹ trong một kho thóc xây tạm sau nhà, nếu không có người chỉ
    thì còn lâu Hiền mới biết được. Ông chủ bảo sẽ đứng ngoài canh chừng,
    khuyên Hiền phải nhanh tay lên vì bà chủ chỉ đi có một lát mà thôi.

    Hiền soi một chiếc đèn dầu vào lòng giếng, mùi ẩm thấp sộc vào mũi cô
    bé làm mấy lần Hiền buộc phải ngoi lên hít thở. Trong giếng không hề có
    một giọt nước nào. Bụng giếng cạn khô, toàn là cát với cát. Lo lắng xen
    lẫn thương cảm cho người mẹ nằm ở nhà, Hiền thầm cầu xin miệng giếng.
    Cô bé khẩn khoản và chỉ nghĩ đến mỗi hình ảnh mẹ mình lúc khỏi bệnh,
    chẳng biết lúc nào hàng giọt nước mắt đã nhỏ đầy xuống đáy giếng, thấm
    vào lớp cát dày đặc. Nước bỗng nhiên từ đâu dâng lên ầng ậc, mạnh mẽ và
    tuôn trào. Không những thế, nước còn bắn thành vòi, tràn lên phía trên
    thành giếng. Vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, Hiền lấy một cái chai nhỏ xíu
    và múc nước bỏ vào đầy chai mà không gặp chút khó khăn gì.

    “Con Hiền đi đâu rồi ?” Một giọng nói bỗng vang lên phía nhà trên

    “Ồ, tôi vừa cho nó về, nghe như mẹ nó trở bệnh nặng”

    “Ừm, ông cũng biết là mẹ nó sắp chết mà, chính mắt tôi đã nhìn thấy ông kẹ phù phép” Bà ta nói bằng giọng hết sức đắc thắng

    Hiền nín hơi, nước trong giếng đã lắng xuống và lại cạn khô như ban
    đầu. Cô bé lẻn ra phía trước nhà, nhờ sự hỗ trợ của ông chủ, Hiền ra
    khỏi nơi đó và trở về nhà ngay lập tức. Cô bé cho mẹ uống thứ nước lạ
    trong giếng, ngay hôm sau, bà Mai lập tức khỏi bệnh ngay. Bà mừng rỡ và
    cảm ơn con của mình. Sau khi nghe chuyện, bà lo lắng khuyên Hiền nghỉ
    việc ngay ở chỗ ngôi nhà đó. Nhưng cô bé không muốn, cô bé muốn tiếp
    tục tìm hiểu và giúp đỡ con chó mực. Bà Mai đành chịu thua và tiếp tục
    để cho Hiền làm việc. Cô bé không đả động gì đến việc mẹ cô khỏi bệnh
    với bà chủ nhà, cô bé vẫn chăm chỉ như thường lệ và không làm điều gì
    khiến bà ta nghi ngờ cả. Dần dần, bà ta cũng lơi lỏng việc kiểm soát
    Hiền với con chó mực, thành ra nếu cần thiết, Hiền cũng có thể tranh
    thủ trò chuyện với nó.



    Giáp ngày trung thu, con chó mực bắt đầu dặn dò Hiền:

    “ngày mai, mụ già sẽ bảo bạn đi theo mụ một lần nữa, mụ sẽ bắt mình nói
    ra bí mật của miệng giếng thần và đem về cho mụ thật nhiều vàng bạc,
    trước khi đi bạn hãy mang theo thật nhiều muối. Chờ mụ sơ ý, hãy đem
    muối rải mạnh vào cơ thể mụ, mụ sẽ hiện hình ngay”

    Đúng như lời chó mực nói, mụ già vẫn bảo muốn Hiền đi với mụ thêm một
    lần vào ngày trung thu. Nhớ lời dặn của chó mực, Hiền giấu vào túi áo
    khoác những nắm muối trắng tinh, cô bé kéo khóa lại thật kỹ để không bị
    mụ già phát hiện. Cô bé làm ra vẻ bình thường, vẫn tiếp tục lễ phép và
    chăm chỉ. Quả nhiên mụ không hề nghi ngờ Hiền và để Hiền cầm xích giữ
    chân con chó. Thực chất sợi xích là một kiểu yểm bùa, giữ không cho con
    chó hiện nguyên hình, sợi xích vô cùng chắc chắn đến nỗi Hiền không làm
    sao phá ra được. Cô bé đành im lặng bước theo mụ già với con chó đen
    lủi thủi bên cạnh. Mụ già dừng lại ở cái giếng thứ nhất và vẫn bắt Hiền
    đứng đó chờ, còn phần mụ tự dắt con chó đi chỗ khác.

    Hiền chờ cho mụ già đi thật lâu, sau đó mới lặng lẽ mò theo bà ta. Cô
    bé lẻn đi trên con đường mòn hôm qua, vừa đi đến gần miệng giếng, cô bé
    chẳng thấy ai ở đó cả. Chỉ có con chó mực, nhưng dường như nó đang cố
    lắc đầu quầy quậy và ra hiệu điều gì đó…

    “Ối!”

    Hiền hét lên, mụ già đột ngột xông ra từ một lùm cây nhỏ, mụ chụp lấy cổ cô bé và quát lên:

    “Ta biết mà, con bé xấu xa, mi và con ranh kia định âm mưu cướp vàng của ta chứ gì, thật là gan cùng mình”

    Bà ta thóp lấy cổ họng của Hiền rồi dùng sức xô em xuống miệng giếng.
    Hiền vùng vẫy chống cự nhưng không cách gì chống lại được sức mạnh của
    mụ phụ thủy. Bà ta giữ cô bé ở trạng thái chỏng cheo trước miệng giếng.
    Con chó mực bồn chồn sủa vang quanh mụ. Mụ phù thủy già khoái trá cười
    vang:

    “Sao? nếu mày không nói, tao sẽ vứt con bé này xuống giếng ngay”

    Con chó không còn cách nào khác đành chỉ cho mụ cách lấy vàng từ giếng:

    “Nếu mụ muốn lấy vàng, phải bỏ cô bé đó xuống đã, tôi sẽ chỉ cho mụ cách”

    “Có thế chứ” Mụ phù thủy hừ giọng, đẩy Hiền nằm uỵch xuống một gốc cây
    gần đó. Cô bé đưa tay lên ngực, cố hớp hơi để điều hòa không khí, tay
    mụ phù thủy quá cứng và mạnh bạo khiến cô bé ngộp thở kinh khủng.

    “Sao, nói đi, nếu không tao sẽ làm điều tao muốn” Mụ tiếp tục quát con chó mực

    Con chó hồi hộp nhìn Hiền, có ý chờ cho cô bé hồi phục và bình tĩnh lại. Nó bảo:

    “Bà hãy nhìn vào trong lòng giếng, nhìn cho thật sâu vào và nói lên mong muốn của mình”

    Mụ phù thủy tham lam vội đu mình vào sâu trong miệng giếng, hét to:

    “Tao muốn vàng, muốn bạc, tao muốn kim cương, đá quý và hồng ngọc”

    Nhưng sau một hồi ước muốn, mụ vẫn chẳng thấy có gì hiện lên, mụ tức
    giận rụt người ra khỏi giếng, định quay sang quát hỏi con chó, nhưng
    chưa kịp làm thế thì…

    “Cho mụ chết này, đồ phù thủy!”

    Hiền ném thẳng mấy vốc muối vào mắt mụ phù thủy, mụ gầm lên rồi ôm lấy
    cái mặt của mình. Nó kêu lên xèo xèo rồi bật cháy bỏng, mụ bắt đầu hiện
    nguyên hình thành một ông kẹ xấu xí. Hắn tức tối liền xông đến quạt tay
    tát cho Hiền một cú mạnh bạo. Hắn hè vào dùng năm ngón tay bằng thép
    đen bóng chuẩn bị quào vào người cô bé. Trong gang tấc, con chó mực
    chạy đến táp vào bắp đùi ông kẹ. Hiền nhân cơ hội vội rụt chân lại né
    kịp. Ông kẹ không chịu bỏ cuộc, hắn phóng mình vụt lên cao, đá vào con
    chó một cái chí mạng, nó rên lên ư ử. Hiền vội vốc thêm thật nhiều muối
    nữa và liên tục ném vào người ông kẹ, hắn khôn ngoan dùng vải che lại
    khắp cơ thể. Thình lình, ai đó đã cầm gậy phang vào sau cơ thể ông kẹ,
    làm hắn té xuống xỉu ngay. Không bỏ lở thời cơ, Hiền trút toàn bộ số
    muối còn lại lên người ông kẹ, làm hắn thét lên hàng chuỗi dài đau đớn
    rồi cơ thể tự động bốc cháy ngùn ngụt.

    Con chó mực mừng rỡ, sau khi mụ già chết, nó được hiện nguyên hình trở
    lại thành một cô bé xinh đẹp như trước. Trước khi tạm biệt Hiền để cùng
    cha trở về trong lòng giếng, cô bé đó chỉ cho Hiền cách lấy vàng bạc từ
    trong miệng giếng ra:

    “cái giếng này có rất nhiều vàng bạc, nhưng mỗi mùa trăng rằm chỉ lấy
    được một lần và phải được chính mình cho phép mới lấy được. Ngày mai,
    bạn hãy trở lại đây, mình sẽ làm phép để bạn có thể lấy được đủ số vàng
    cho bản thân.”



    Hiền nhớ kỹ lời dặn dò của cô bé, tối hôm sau, Hiền dắt mẹ đến miệng
    giếng sau con đường mòn. Quả nhiên, khi Hiền nhìn xuống đáy giếng, được
    sự cho phép của cô bé kia, vàng bạc cứ trào lên như nước, phủ đầy miệng
    giếng, Hiền lấy bao nhiêu cũng không hết. Nhưng ngay sau đó, Hiền và mẹ
    nghe thấy có tiếng động, hàng đống người lũ lượt kéo tới trước miệng
    giếng, dẫn đầu là mụ chủ nhà độc ác. Mụ chỉ cho những người kia thấy,
    trên tay Hiền và sau miệng giếng kia có rất nhiều bạc vàng, muốn bao
    nhiêu cũng có. Lũ người kia bị kích động lòng tham liền xông tới bắt mẹ
    con Hiền và bảo họ trao vàng ra. Hiền hoảng sợ nhưng cố giữ bình tĩnh,
    cô bé cất tiếng nói:

    “Tôi không giữ vàng, bạc gì cả, không tin ông cứ tìm xem”

    “Nói láo!” Một lão già râu vểnh thét lên “mày có rất nhiều vàng, nhanh chóng đưa ra đây, nếu không thì không xong đâu”

    “Đúng đó, nó có nhiều lắm’ Mụ chủ nhà rỉ tai lão

    “Tôi nói không có, ông bảo có thì ông cứ tìm thử đi”

    “Để tao” Mụ chủ nhà quát “con nhãi ranh này”

    Mụ xông tới miệng giếng rồi reo lên phấn khởi:

    “Đây rồi, toàn là vàng”

    Vừa nghe mụ nói, cả đám người lao nhao xông tới. Sợ mất phần, càng lúc
    càng nhiều lượt người bám vào nhau mặc sức tranh giành. Nhưng chỉ vài
    phút, họ rên rỉ và có người còn quát tháo um sùm, vừa tức giận vừa đau
    đớn:

    “Mụ điên à, toàn là bùn cát”

    Quả đúng như thế, trong miệng giếng, vàng đã kịp rút hết trước khi
    người ta kịp xông đến. Lòng tham khiến mụ chủ nhà mờ mắt, mụ cứ khăng
    khăng bảo trong giếng có vàng và không ngừng cúi mình chúc xuống miệng
    giếng. Bất ngờ, bà ta mất thăng bằng, không ai chụp kịp người bà ta
    lại, bà té xuống và bị chôn vùi trong lớp cát dưới giếng.



    Kể từ ngày sau đó, Hiền cùng mẹ đem số vàng có được, phần lớn bí mật
    đem tặng cho những người nghèo khổ và khó khăn. Cô bé cũng có lần quay
    lại tìm miệng giếng nước thần, nhưng cả ba cái đều cạn nước và dần dần
    không bao giờ có ai thấy chúng được nữa.

    Edited by: \1

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •