Lời giới thiệu của nhà sách về tác phẩm này:

[b]"Định
mệnh" là một tác phẩm hay và cảm động do bạn đọc từ Canada gửi về cho
chúng tôi, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu với độc giả tác phẩm này
để các bạn đánh giá và bình chọn.
Và đây là nội dung từ mail của tác giả gửi cho chúng tôi, chúng tôi cũng xin trích nguyên văn: [/\2]
[i]Kính gởi nha sach Tri Tue,

Gởi
đến anh/chị bài văn dựa vào chuyện thật của đời tôi. Vì qua Canada hơn
30 năm nên viết tiếng Việt sẽ không tránh lổi chính tả. Tòa sọan có
quyền modify những đọan không thích hợp hoặc không cần thiết. Nếu may
mắn được đăng, xin tòa sọan gởi cho tôi 1 copy để làm kỷ niệm. Cám ơn.

Tuyên[/\2]

(Để tưởng nhớ một cuộc tình không đọan kết)

Làng
Tân Lộc nằm trên cù lao mới nổi vài trăm năm nay, là vùng đất màu mỡ
nhất tỉnh Hậu Giang. Qua nhiều năm, nơi đây cung cấp đường mía nhiều
nhất cho các tỉnh miền Nam. Ngoài những đám mía bạt ngàn vườn xoài xanh
biếc, người ta còn biết làng Tân Lộc với những cô gái có nước da trắng
bóc của vùng sông nước Cửu Long. Mấy năm gần đây cù lao được gọi là đảo
Đài Loan, vì có nhiều thiếu nữ lấy chồng xứ ấy. Hơn một phần tư thế kỷ
xa quê hương hôm nay mới có dịp trở lại bến đò Tân Tây, cổng chính để
vào làng.

Làng nằm bên lở xuôi dòng sông Hậu, dọc theo hai
bên bờ sông đất bị xâm thực khá nhiều và cuốn đi bao hình ảnh thơ mộng;
từ hàng dừa thẳng tấp nghênh ngang những đến những đám bắp non mơn mởn
đã bị dòng thủy triều cuốn đi không thương tiếc. Bởi thế, bãi càng hẹp
sông càng rộng ra, trông mịt mùng xa tít. Dân làng tiếc đất, tiếc mồ
hôi bao đời cha ông đổ xuống cũng chỉ biết giương mắt nhìn nhau trong
ngậm ngùi.

Vượt sông trên chiếc đò già nua khụt khịt. Anh
chủ đò mình trần da đen bóng, đôi mắt ti hí mơ màng nhìn theo dòng nước
chảy. Quan niệm sống của người miền Tây đơn giản quá. Được thiên nhiên
ưu đãi nên họ chỉ mong có miếng cơm cho qua ngày, để mặc ngày mai đến
như mọi ngày, cũng êm ả đến và êm đềm đi chứ không bất trắc như miền
Trung đất cày lên sỏi đá.

Ánh sáng mặt trời phản chiếu lấp
lánh nhảy lăn tăn trên mặt sóng. Tiếng máy đò vẫn khìn khịt vang lên
trong mệt mỏi vì cố sức chống chọi với nước lũ ngược dòng. Mùa lũ tháng
tám nước sông từ thượng nguồn cuồn cuộn đổ về đục ngầu với những đám
lục bình trôi tản mác. Cũng nơi khúc sông này, năm lên sáu tuổi, tôi
theo mẹ thuê ghe về quê ngoại, ra giữa sông bị cơn mưa bão bất thần đổ
ập xuống, sóng gầm thét từng đợt chồm lên như muốn nuốt chửng chiếc ghe
tam bản nhỏ bé. Mẹ bảo niệm Phật nhưng tôi chỉ thích khóc to lên để
những hạt mưa ngọt rơi đầy miệng. Âm thanh tiếng sóng đập vào bờ đưa
tôi về thực tại. Đò cập bến. Vừa lên bờ tôi hỏi bà cụ bán mận:
- Bác cho cháu hỏi nhà cô giáo Nguyệt?
- Có phải Nguyệt con ông xã Bổn? Sao cậu biết mà về?
Tôi không hiểu ý của bà nên chỉ đưa mắt nhìn. Không đợi tôi xác nhận bà đưa tay về phía trước:
-
Từ bến đò này cháu đi thẳng khoảng một sào ruộng đến cái miễu đất thì
rẽ trái. Đi một đỗi khoảng thời gian hút nửa điếu thuốc cháu thấy cây
cầu dừa. Qua cầu là nhà ông hai Cụi nuôi vịt bầy. Bên hông nhà có con
đường đất nhỏ dẫn vào nhà cô giáo Nguyệt với những bụi cúc vàng nở hoa
quanh năm.
Theo lời chỉ dẫn, tôi đậu xe ngoài hàng tràm đi men theo
con đường đất về hướng bờ sông. Gió thổi nhẹ và mát làm cơn mệt vơi đi
phần nào. Tìm nhà không số không tên đường ở miền quê không phải là
chuyện đơn giản. Lòng nôn nao, ý nghĩ xáo trộn, tôi như là người của
bây giờ, đang sống với những ngày đã qua không yên ổn.
*
* *
Sau
khi đáp xuống phi trường quốc tế Đài Bắc, tôi gọi taxi về khách sạn.
Tắm rửa xong tôi ngủ vùi đến chiều tối. Bước ra cửa thì thành phố đã
lên đèn. Từng đoàn xe tuôn trào trên đường phố như đàn kiến bị ngập
nước vỡ tổ. Đã hơn hai lần đến thành phố này nên tôi cũng biết ít
nhiều. Tôi quyết định đi bộ ngược đường Tưởng Giới Thạch lên khu trung
tâm thương mại quốc tế, cách đó không xa, nơi mà bạn tôi luôn nhắc là
phải đến để thưởng thức ly café đặc sản được pha theo phong cách Đài
Loan.
Quán Mimosa nằm ở cuối đường, trong một biệt thự lớn. Đây là
trung tâm của giới ăn chơi trẻ. Nhà được chia ra làm ba khu vực và được
phân biệt nhau bằng những ngọn đèn khác màu.
- Em cho anh ly café đá.
Cô gái mặc chiếc áo thun đồng phục lấm tấm hoa xanh vàng nhìn tôi từ đầu đến chân rồi ranh mãnh trả lời:
- Anh Hai ơi, ở đây chúng em không bán café, chỉ có rượu thôi.
Chúng
tôi trao đổi bằng tiếng Anh. Nói xong cô gái để bảng menu trên bàn với
nụ cười mủm mỉm, tôi liếc qua toàn là tên rượu. Biết mình vào lầm chỗ,
tuy không uống được rượu nhưng tôi phải gọi một cái gì đó để “tồn tại”,
không lẽ ra về không.
- Cho anh một set Martine.
Nhạc đã bắt đầu chơi, từng cặp trai gái dìu nhau ra sàn nhảy quay cuồng theo tiếng nhạc.
- Would you like to dance?
Ngẩng lên tôi nhận ra một cô gái trẻ đứng trước mặt.
- Cảm ơn cô, tôi không biết nhảy – Tôi ngượng ngùng trả lời.

gái mỉm cười và xin phép ngồi xuống bên tôi. Nhìn cách ăn mặc tôi biết
nàng không phải người của nhà hàng. Nàng có nhan sắc trung bình, duyên
dáng trong bộ skirt đỏ, tóc cắt ngắn, người hơi thấp nhưng có nụ cười
dễ mến với chiếc răng khểnh làm duyên.
- Sao em không nhảy?
- Em thích ngồi với anh thôi.
- Xạo hoài.
Nàng
cười rồi mơ màng nhìn mông lung. Tôi gọi thêm một ly Martine cho nàng.
Trong tiếng nhạc rộn ràng mà nàng trầm ngâm với đôi mắt to đen nhánh
vời vợi xa xăm, chắc nàng đang hoài cảm chuyện gì đó. Để phá tan sự yên
tĩnh, tôi gợi chuyện:
- Sao em biết anh không phải người Hoa mà hỏi bằng tiếng Anh?
- Đây là khu Thương mại quốc tế nên hầu hết là người nước ngoài. Vả lại khuôn mặt anh không giống người Trung Hoa.
Tôi
thầm phục nhận xét của nàng. Nhìn kỹ nàng có nét thông minh ngầm với
vầng trán rộng và chiếc cằm nhọn. Tiếng Anh của nàng dưới trung bình,
nhưng đủ để giao tiếp căn bản. Tôi sống lâu năm ở Canada, xứ nhiều sắc
dân nhưng tiếng Anh là ngôn ngữ chính, tuy nhiên mỗi dân tộc đều có
giọng âm dị chủng ẩn sau tiếng Anh. Tôi bắt gặp ở nàng một hình ảnh
thân quen, có lẽ nàng là người Việt vì giọng phát âm quen thuộc và dễ
thông cảm, cộng thêm đặc nét đôi gò má cao hai bên chiếc mũi xẹp truyền
thống.
Tôi ranh mãnh hỏi bằng tiếng Việt, nếu là người đồng hương nàng sẽ nhận ra ngay, nếu không thì nàng chẳng biết tôi nói gì.
- Em có thường về Việt Nam không?
Như
một luồng điện nhỏ xuyên qua người, nàng bất thần rút hai bàn tay lại
và giấu dưới bàn. Dáng điệu lúng túng như vừa ăn trộm bị bắt quả tang,
nàng xòe đôi mắt nhìn quanh rồi nhìn tôi với giọng mấp máy nói khẽ:
- Sao anh biết em là người Việt?
Không
trả lời, tôi mời nàng điếu thuốc. Bật diêm mồi lửa, dưới ánh sáng nhỏ
lập lòe, khuôn mặt nàng càng hiện rõ hơn với nét đặc thù của con Rồng
cháu Tiên.
Qua giọng nói tôi biết nàng là người miền Nam, có thể quê
miền Tây. Tôi ngạc nhiên trong thích thú. Để nàng không ngại, tôi nói
sơ về mình trước: “Anh tên Minh, sinh và lớn lên ở tỉnh Đồng Tháp, rời
Việt Nam khi còn trẻ, có thể trước khi em sinh ra. Anh mới đến Đài Loan
dự triển lãm để chuẩn bị chuyện làm ăn đầu năm sau và sau đó anh sẽ về
Việt Nam thăm nhà trước khi trở lại Canada”
Thấy tôi hiền hiền, không phải là dân ăn chơi hay dân địa phương nên nàng không tỏ chút gì e ngại nữa.
-
Đến lúc này, xin phép cho Uyên gọi chú và xưng cháu. Cháu sinh năm
1980. Mới đầu cháu tưởng chú biết rõ về cháu. Giờ thì khác rồi.
Nàng nói tiếng Việt giọng ấm và nhẹ nhàng. Chúng tôi nói chuyện hơn nửa giờ mà Uyên vẫn muốn tâm sự. Tôi ngại nên nhắc khéo:
- Cháu có muốn đi tìm khách? Đang rảnh, chú sẽ ngồi chơi nghe nhạc cho đến giờ đóng cửa.
-
Hôm nay cháu vui khi được nói chuyện với chú. Qua đây hai năm, sống
trong thế giới xa lạ nên cháu nhớ nhà và thèm nói tiếng Việt như thèm
sữa mẹ.
Nói xong nàng bẽn lẽn cười.
Nhạc tour vừa dứt. Mọi người
trở lại bàn. Họ ngồi xung quanh tôi nhưng không ai chú ý, có lẽ đối với
họ nàng đã quen thuộc hàng đêm ở quán này.
Uyên xin phép tôi rời bàn. Khoảng năm phút sau nàng trở lại.
-
Cháu xin đề nghị chú một chuyện: Cháu mời chú đi uống café cách đây một
đoạn đường, ngon và hợp với khẩu vị người Việt mình. Vả lại cháu muốn
tâm sự với chú nhiều hơn. Ở đây không tiện.
Tôi gật đầu đồng ý, mở ví gọi tính tiền, Uyên ngăn lại và nói đã trả tiền rượu cho tôi rồi. Tôi trách nàng phá lệ.
-
“Phép vua thua lệ làng” mà chú. Nói đùa chứ đây là lần đầu tiên cháu
trả tiền cho khách. Cháu nói chú là ba cháu nên được giảm 50%.
Uyên cười to rồi lấy áo khoác cùng tôi ra cửa.
Đài
Bắc năm 2000 cũng không khác gì Chợ lớn ngày xưa, càng về khuya cửa
hàng ăn uống càng đông. Những xe mì bên vỉa hè khách ngồi chật ních, xa
xa tiếng mì gỏ vang lên những âm thanh quen thuộc của những năm nào
trong thời chiến tranh.
Đi một đoạn, chúng tôi vào một quán café. Quán sáng sủa và trang trí nhiều màu sắc rực rỡ theo lối Bắc Mỹ.
- Chú có muốn nghe chuyện của cháu không? Buồn lắm chú ơi.
- Tôi gật đầu và im lặng nhìn Uyên. Tôi chống hai bàn tay trên cằm chăm chú nhìn và nghe.
Mồi điếu thuốc, Uyên nhìn khói bay lơ lửng rồi bắt đầu kể:
-
Hôm nay cháu không có khách, thấy chú ngồi một mình cháu muốn ngồi
xuống để người ta thấy mình không ế hàng, thành thật xin lỗi vì cháu đã
lợi dụng chú. Qua cách ăn mặc, cháu cũng dư biết chú không phải là
người địa phương và cũng không phải là khách “đối tượng” để có thể cù
qua đêm, nhưng cháu sợ chú là thám tử riêng theo dõi. Cháu sẽ kể chi
tiết này sau.
Tôi chăm chú nhìn Uyên và ngắm kỹ nàng hơn. Khuôn mặt
tròn đầy, môi mỏng và nhỏ, khi nói hai bờ môi hơi mím lại, dấu hiệu của
người cương quyết, dám nói dám làm. Có lẽ đôi mắt là gây ấn tượng nhất
trên khuôn mặt, tròn đen và hơi to. Hình như nó giống như đôi mắt của
con gái tôi đang sống ở Canada.
- Quê cháu ở Cần Thơ, đúng hơn là
làng Tân Lộc, một cù lao giáp ranh với Đồng Tháp, gần quê của chú đó.
Gia đình nghèo, mẹ bị bệnh nan y. Đang học năm thứ ba ngoại ngữ Anh,
cháu phải đi lấy chồng người Đài Loan. Sau này mới biết ngoài một số ít
người may mắn, còn lấy chồng Đài Loan là chôn cuộc đời theo năm tháng
đọa đầy. Ba ngàn đô la cho một kiếp người. Chồng cháu là một ông già 70
tuổi, nhưng người qua Việt Nam cưới cháu lại là người khác, trẻ và khỏe
mạnh hơn. Cháu bị lừa. Ngày ra đi trong nước mắt, cháu đã cảm nhận số
phận của mình. Từ ngày cưới cho đến ngày về Đài Loan, cháu và người mà
cháu tưởng là chồng không bao giờ ngủ chung. Đó là điểm lạ đối với
những ông chồng Đài Loan háo sắc bỏ tiền mua vợ Việt Nam. Không ai biết
điều đó vì sau khi cưới tụi cháu lên Sài Gòn cùng ngày để đợi chuyến
bay.
Giọng Uyên hơi nghẹn lại, mắt ướt nhưng không khóc. Nàng mở ví
lấy cây son thoa nhẹ lên môi như muốn đánh lạc hướng sự chú ý của người
xung quanh. Nàng kể tiếp:
- Đến Đài Bắc cháu được chuyển về một vùng
quê phía đông. Nhà chồng rộng 3 gian và một khu nhuộm lụa phía sau. Nhà
đông người lắm, nhất là đàn bà. Đêm hôm ấy người vào phòng cháu là một
ông già ốm tong ốm teo với hàm răng chiếc còn chiếc mất, người mà tại
phi trường cháu tưởng là cha chồng. Đêm ấy, cháu mất đời con gái trong
tủi nhục. Sáng hôm sau, cháu dự buổi họp mặt gia đình thì mới biết mình
là vợ thứ 3 của lão già gần đất xa trời. Cháu thật không ngờ đã là thế
kỷ 21, một nước tân tiến như Đài Loan mà còn chế độ đa thê. Đúng ra
chính quyền không làm gì được, vì trên danh nghĩa lão già không phải
người đi cưới cháu. Gia nhân không ai dám nửa lời. Người ngoài nhìn vào
thì cháu là vợ của A Hoàn, chồng trên giấy tờ và cũng là người quản gia
của gia đình. Từ đó cháu mới biết tại sao ông ta đến tận Việt Nam tìm
vợ. Vì đàn bà Việt Nam siêng năng, đa số là gái quê ít học, sợ hãi nơi
xứ người mà không dám tố cáo. Thời gian sau đó là những ngày tháng đau
khổ của một kiếp đọa đày. Gia đình lão làm nghề dệt lụa nên cháu phải
làm việc từ sáng đến tối. Suốt gần hai năm chung sống, cháu và lão già
gần nhau chỉ có ba lần, những đêm còn lại cháu trở thành món đồ chơi
của lão già kiệt lực và bệnh hoạn. Nhiều đêm lão cởi hết quần áo rồi
cột cháu vào thành giường mà đánh, không mạnh, không thương tích, nhưng
đủ để nỗi chua cay thấm dần vào cơ thể. Mệt, lão ngồi trên trường kỷ
nhắm vài chun trà, rồi thú vị nhìn tấm thân cháu oằn oại như con tầm
đang nhả tơ..
Uyên ngừng kể. Nước mắt ứa chảy ra hai hàng. Tôi tưởng
nàng không còn nước mắt để khóc nữa. Hai ly café đã nguội mà không ai
nhớ tới. Tôi bắt đầu lúng túng trong hoàn cảnh này. Tôi rất sợ nước mắt
đàn bà, những giọt nước nhỏ, mềm mại nhưng luôn luôn làm tan chí khí
đàn ông.
- Cuối cùng, trong một đêm chở hàng ra Đài Bắc bán, cháu
tìm cách trốn. Cháu kể hoàn cảnh mình cho chủ đầu mối người Ấn Độ nghe.
Ông ta thông cảm và hứa sẽ giúp cháu trốn trong đêm đó. Ông nói với gã
tài xế tối nay mới có tiền trả. Như đã xắp đặt trước, 9 giờ tối, sau
khi ông đưa tiền hàng cho cháu, cháu xin đi tiểu và thoát ra cửa sau.
Đêm
ấy cháu ngủ ngon lành ở một khách sạn nhỏ trong một khu vắng lặng. Gần
sáng, cháu nằm mơ thấy tắm với mẹ và bơi đùa trên con sông Hậu chảy
trước nhà với bông ô môi đỏ trôi bồng bềnh trên mặt nước. Vì không có
giấy tờ để bay về Việt Nam, cháu phải tìm việc làm ở Đài Bắc. Vốn tiếng
Anh và tiếng Hoa ít ỏi nên cháu không tìm được việc. Chỉ một tháng sau
tiền bán hàng xài hết, rồi hoàn cảnh đưa cháu vào đây, đêm đêm với
tiếng nhạc, rượu và thuốc. Sau khi cháu trốn, ông chủ Ấn Độ cho biết
lão già sai người đi tìm. Lão ta đăng báo và mướn thám tử tư đi lùng
khắp Đài Bắc. Bởi thế, khi chú hỏi cháu có thường về Việt Nam không làm
cháu điếng hồn, tưởng chú là thám tử của ông ta. Cũng may cháu cắt tóc
ngắn, trang điểm và thay đổi cách ăn mặc hoàn toàn khác ngày trước nên
không bị bắt trở lại cái địa ngục ấy.
- Chú có biết ý nghĩa của tên cháu không?
Tôi lắc đầu cười thông cảm.
-
Vì khi nhỏ cháu hát hay như chim Vành Khuyên. Sau bốn năm sinh ra cháu,
mẹ mới đi làm giấy khai sinh để vào trường. Cháu cũng không hiểu tại
sao?
- Thế thì có liên hệ gì đến tên Uyên của cháu?
- Có chứ, nhưng chẳng ai đặt tên con gái là Vành Khuyên. Trần Thị Vành Khuyên nghe làm sao ấy.
Bất
ngờ Uyên đổi hướng câu chuyện như thế, tôi biết nàng không muốn khơi
lại đống tro tàn mà ngọn lửa lòng chưa tắt hẳn. Nàng còn nhiều ẩn khuất
nhưng chưa tiện nói ra với một người còn quá xa lạ.
- Khi nào chú về lại Việt Nam?
- Ngày mốt. Cháu có muốn về với chú không?- Tôi nói đùa làm nàng chạnh lòng
- Muốn lắm chứ chú, nhưng phải làm sao đây khi cái nghiệp chướng chưa trả xong.
Cả
hai chúng tôi đều im lặng thật lâu. Đêm đã về khuya, gió lành lạnh,
sương mù dầy đặc đã trùm khắp thành phố. Tôi nghĩ nếu Uyên không nói
nữa thì tôi xin cáo từ vì ngày mai phải đi hội chợ suốt ngày. Hình như
đoán được ý định của tôi, nàng mở ví lấy ra 500USD và một tấm hình màu
cũ không rõ nét.
Cháu muốn nhờ chú giúp đem số tiền này về cho mẹ
cháu và tấm hình chụp cháu năm xưa để bà làm tin. Mẹ cháu đang đau lên
rất cần số tiền này.
- Chú sẵn sàng giúp cháu nhưng chú nghĩ tấm hình không cần thiết, vì chụp ở Việt Nam nên cháu giữ làm kỷ niệm.
- Không đâu, mẹ cháu nghèo nhưng khí khái lắm. Có thể mẹ không tin và sẽ từ chối nhận tiền giúp đỡ của người xa lạ.
Cảm động trước lòng tin của Uyên, tôi nói rất chân thành:
- Cháu liều thật. Dám gửi số tiền lớn cho một người chưa hề quen biết. Cháu có chắc tiền này sẽ đến tay mẹ cháu?
-
Trực giác của cháu chưa bao giờ sai. Đây là cơ hội hiếm có đến với
cháu. Vả lại nhà chú cũng gần quê cháu. Chú có đến Lai Vung bao giờ
chưa? Khi chưa lấy chồng cháu thường qua Lai Vung mua nem. Nem bà giáo
Thơ ngon lắm.
Tôi cười mà không trả lời. Đúng, quê tôi cách nhà Uyên
chỉ năm cây số, gần hơn Uyên tưởng, nhưng phải qua con sông rộng và bến
đò Tân Tây. Tôi không muốn Uyên biết vì sợ nàng đặt quá nhiều hi vọng
cho chuyến đi.
Uyên mở ví lấy tấm danh thiếp của mình rồi viết địa
chỉ và tên mẹ vào, mặt sau nàng vẽ đường đến nhà với những nét ngoằn
nghèo không rõ lối.
Hai hôm sau, Uyên tiễn tôi ra phi trường. Tại
phòng cách ly nàng dúi vào tay tôi thanh kẹo chocolate và nhắc cố gắng
tìm cho được mẹ nàng. Tôi hứa sẽ điện thoại cho nàng biết, nếu không
tìm được tôi sẽ trở lại Đài Loan trả lại tiền trước khi về Canada.
Uyên bất chợt thở dài. Nàng định nói gì thêm nhưng lại thôi.
- Hãy yên tâm, cháu Uyên – Tôi không nén nổi xúc động nói với nàng
- Chú sẽ hết sức cố gắng.
Uyên chớp mắt nhìn tôi, đôi môi héo hắt chợt hé một nụ cười.
*
* *
Cuối
cùng tôi cũng tìm được nhà Nguyệt, mẹ của Uyên. Nhà lá vách ván nhưng
trông gọn và xinh với những bụi cúc vàng nở rực. Nhà hôm nay đông người
nhưng khung cảnh ảm đạm nặng nề. Nằm trên chiếc giường tre gần cửa ra
vào, một người đàn bà trung niên dáng tiều tụy, má hóp, mắt sâu và
quầng thâm của một người bệnh nặng. Đoán là mẹ của Uyên, tôi bước nhẹ
đến bên giường khẽ hỏi:
- Chị có phải là Nguyệt, mẹ cháu Uyên.
Người đàn bà nhìn tôi mệt mỏi không trả lời.
- Đúng vậy thầy Hai, má của con Uyên đó.
Một
người ngồi bên trả lời thay. Nhà chật không đủ ghế nên tôi ngồi bên mép
giường cạnh nàng. Với tình huống này tôi không biết bắt đầu từ đâu để
mẹ Uyên nhẹ nhàng đón nhận tin con. Nếu không khéo đưa tin bệnh sẽ bộc
phát mạnh vì cái sốc bất ngờ. Nguyệt thều thào bảo mọi người ra ngoài
để chúng tôi dễ nói chuyện. Trong một phút yên lặng, Nguyệt bất ngờ nắm
tay tôi bóp nhẹ, thì thào hỏi:
- Có phải anh Minh, thầy giáo Trần Duy Minh?
Ngạc
nhiên đến cực độ, môi tôi mấp máy nói không lên lời. Tôi linh cảm
chuyện bất ngờ sẽ xảy ra. Nàng đã gọi đúng tên tôi và cả họ. Tích tắc,
hình ảnh một người thân, thật thân hiện ra trong ký ức. Trời ơi, Nguyệt
của tôi đây rồi. Cô giáo Nguyệt với hoa cúc vàng. Người mà tôi đã chạy
trốn 25 năm về trước.
Tôi gật đầu mà không nói lên lời, nước mắt tuôn ra hai hàng rơi xuống bàn tay khô héo của Nguyệt.
Ngày
xưa Nguyệt cao, dánh mảnh mai, tóc nhiều và dài đến thắt lưng. Có lúc
tôi ví nàng như cây liễu bên hồ, đứng xa chỉ thấy toàn là lá lơ phơ
trước gió. Uyên giống mẹ với đôi mắt đen huyền lúc nào cũng muốn cười,
cười bằng đôi mắt. Trước mặt tôi bây giờ là Nguyệt, cũng đôi mắt như
ngày xưa nhưng mông lung huyền bí như để chuẩn bị đi vào cõi hư vô. Từ
một thiếu nữ tràn đầy sinh lực, nay trông nàng đã héo hon tiều tụy, thế
cũng đủ để nói lên tất cả.
Nguyệt ơi. Em có còn nhớ đêm cuối và cũng
là đêm duy nhất chúng ta bên nhau, em hỏi bao giờ tôi trở lại, tôi dư
biết câu trả lời mà không dám nói. Tôi cầm tay em hôn nhẹ lên ngón áp
út như thể từ biệt, chỉ mình tôi biết cái ý nghĩa của nụ hôn ấy. Em
ngây thơ quá, em tưởng như sự ra đi của tôi như mẹ đi chợ tỉnh, trước
sau rồi cũng về. Em đã quá quý trọng tôi mà tôi thì hờ hững, tàn nhẫn
vùi dập tình em. Em thường ví tôi là chiếc ly ngọc để em nhỏ vào mọi
vui buồn, là cây rừng cho đôi cánh em có chỗ đậu những khi mệt mỏi. Thế
mà tôi đã đập bể ly ngọc, chặt hết cây rừng để đôi cánh kiệt sức ngã
xuống vũng nước của cuộc đời. Nhưng cuối cùng tôi cũng trở lại tìm em,
không phải ngẫu nhiên mà là định mệnh.
Nguyệt trông mệt nhiều. Nước
mắt lại đong đầy, ứa chảy lăn tròn xuống chiếc gối vàng úa. Hình như
nàng muốn nói điều gì mà không còn hơi sức. Tôi cuối xuống thật gần để
cố nghe lời thầm cuối cùng mà nàng cố sức khẽ nói vào tai tôi: Em luôn
nhớ anh. Lời nói và mùi hương của cành hoa đang rã nhụy làm tôi chao
đảo trong cơn đau tột đỉnh của tình người.
Sau đó tôi muốn biết
thêm về cuộc sống gia đình nàng trong những năm qua, về ba của Uyên và
hạnh phúc của hai người nhưng hoàn cảnh hiện tại không cho phép, nhất
là không muốn mọi người chung quanh biết tôi là ai. Tôi dự định ngày
mai trở lại sớm, hy vọng nàng khỏe hơn để hỏi thăm nhau. Cuối cùng tôi
nhắc đến Uyên và cho biết đã gặp nàng trên đất Đài Loan.
- Anh tình
cờ biết vợ chồng cháu Uyên qua người bạn. Cháu vẫn khỏe, gia đình bình
yên và hạnh phúc. Cháu có gửi cho em 2,000 USD và một bức ảnh. Anh chắc
Uyên không biết em bệnh, vả lại chuyện làm ăn quá bận rộn nên cháu chưa
thể về trong lúc này – Tôi nói láo mà lòng chua xót.
Khuôn mặt thẫn
thờ bất động, Nguyệt đưa bàn tay cầm bức ảnh con rồi nghiêng đầu nhìn
ra ngoài bầu trời, lúc đó mây đen đã dày đặc, gió bắt đầu thổi mạnh làm
những cánh cúc vàng bay tơi tả trong một buổi chiều tàn ảm đạm..
Hôm
sau trở lại, tôi đau đớn được biết nàng đã ra đi trong đêm qua, nhẹ
nhàng và thanh thản. Một người đàn bà đưa tôi phong bì lớn dán kín và
một túi đồ nhỏ. Bà nói tối qua trước khi mất, Nguyệt nhờ tôi trao lại
cho Uyên và muốn tôi biết những gì trong đó.
Tôn trọng Uyên nên tôi
không muốn mở phong bì cho đến khi gặp nàng, dù được phép của Nguyệt.
Tôi ở lại dự đám tang đến ngày hạ huyệt. Không ai biết chuyện tình của
chúng tôi, họ chỉ đơn thuần nghĩ hai đứa ngày xưa dạy chung trường.
Tôi
trở về Đồng Tháp thăm gia đình, nán lại ít hôm chơi với ba mẹ rồi vội
vã lên Sài Gòn đón chuyến bay về Canada. Tại phi trường, vì an ninh, cô
nhân viên hải quan bắt buộc tôi phải mở phong bì để khám xét. Lúc ấy,
tôi mới biết trong đó chứa nhiều giấy tờ hộ thân như giấy khai sinh, sổ
nghiệp chủ nhà đất và nhiều hình kỷ niệm của hai mẹ con, điều tôi băn
khoăn là không có hình ba của Uyên. Cuối cùng trong một bao thư nhỏ để
riêng có tấm hình trắng đen, trong đó tôi và Nguyệt. Bất ngờ quá! Tôi
chợt nhớ, hình như vào khoảng cuối năm 1976, chúng tôi chụp chung nhân
chuyến thực tập ở một trường miền quê. Bất ngờ trước chưa qua, bất ngờ
sau lại đến. Hơi thở tôi nghẹn lại, tay rung rung, mắt hoa lên khi đọc
chi tiết trên tờ giấy khai sinh của bé Uyên:
Trần Thị Tú Uyên. Sinh
năm 1980 tại làng Tân Lộc, huyện Thốt Nốt, tỉnh Hậu Giang. Tên cha:
Trần Duy Minh, sinh năm 1953, nghề nghiệp: Giáo viên. Tên mẹ: Đào Thị
Minh Nguyệt, sinh năm 1955, nghề nghiệp: Giáo viên..

Toronto 10/01/2004


Edited by: \1